Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2009

Võ Nguyên Giáp vị nhân tướng khuyến học



"Những người làm công tác khuyến học và những người được thụ hưởng khuyến học trân trọng kính chúc Đại tướng mạnh khoẻ, minh mẫn, trường thọ, mãi mãi là gương sáng của một danh tướng văn võ song toàn.Tên tuổi và công lao của Đại tướng không chỉ gắn liền với những chiến thắng lẫy lừng trong sự nghiệp chống ngoại xâm mà còn là một biểu tượng rực rỡ của tinh thần hiếu học và khuyến học của nhân dân Việt Nam." (Ảnh: Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm)

Mừng thọ Đại tướng Võ Nguyên Giáp : Cùng với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, cán bộ hội viên Hội Khuyến học Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Chủ tịch danh dự đầu tiên của Hội Khuyến học Việt Nam, học trò lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - tròn 95 tuổi 25/8/1911 – 25/8/2006. (Năm 2009, đại tướng thọ 99 tuổi)

(DANHNHANVIET tuyển chọn và thu thập tư liệu theo Việt Báo_DanTri)


VÕ NGUYÊN GIÁP, CỰU SINH VIÊN TRƯỜNG LUẬT - ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG

Nguyễn Văn Hoàn
Bài đăng trên website Trường Đại học Quốc gia Hà Nội

DANHNHANVIET. Trong số các nhà lãnh đạo Việt Nam thời hiện đại, có lẽ Võ Nguyên Giáp là nhân vật được đề cập và bàn luận nhiều nhất ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Nhà sử học quân sự người Mỹ Cecil Currey đã ca ngợi ông "Chiến thắng bằng mọi giá - Võ Nguyên Giáp, thiên tài của Việt Nam" nhưng sẽ là xác đáng hơn nếu nói như một đồng đội của ông - Thượng tướng Trần Văn Trà: Võ Nguyên Giáp là vị Tổng tư lệnh biết quý từng giọt máu của chiến sĩ, hay như nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam người Ý, Pino Tagliazucchi, người đã đến Hà Nội phỏng vấn Võ Nguyên Giáp về quá trình chuyển biến tư tưởng từ Phan Bội Châu sang Nguyễn Ái Quốc, đã viết: "Nên tránh việc trình bày Võ Nguyên Giáp như một vị tướng cổ điển, một diện mạo kiểu Napoléon, trái lại, Võ Nguyên Giáp là một nhà chiến lược thực sự vĩ đại một cách đương đại và là một nhà chính trị".

Mùa hè năm 1925, Võ Nguyên Giáp rời Trường Tiểu học Đồng Hới ở quê nhà Quảng Bình để vào Huế ôn thi vào Trường Quốc học Huế. Chính cụ thân sinh là Võ Quang Nghiêm tự mình dẫn con đi.

Đặt tên con là Nguyên Giáp, nhà nho học tài thi phận này thầm mong ước con mình sẽ lập được thành tích sáng chói trong học tập nhưng Võ Nguyên Giáp thì chỉ đăng ký tên mình vào hồ sơ xin học là Võ Giáp; về sau biết chuyện, ông cụ rất tức giận và bắt phải khai lại đúng như tên ông đã đặt: Võ Nguyên Giáp . Một bạn học cũ ngồi cùng bàn - sau này là Giáo sư Toán học Nguyễn Thúc Hào - còn nhớ cách bà giáo người Pháp đọc hai tiếng "Vo Giap" theo lối phát âm tiếng Pháp, không có dấu và không có chữ "Nguyên". GS. Nguyễn Thúc Hào còn kể: Tại kỳ thi nhập học năm đó, tôi đỗ đầu, còn anh Giáp đỗ thứ hai, nhưng suốt cả năm đệ nhất niên, tháng nào anh ấy cũng đứng đầu lớp.

Võ Quang Nghiêm là một nhà nho nghèo, đã qua nhiều kỳ thi Hương, kể cả khoa cuối cùng năm Mậu Ngọ (1918) nhưng đều không đậu. Làm hương sư và thầy thuốc Đông y, ông được nhân dân địa phương rất kính trọng. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, ông bị Pháp bắt, đưa về giam ở Huế và mất trong tù.

Gia đình Võ Nguyên Giáp làm nghề nông, mức sống chật vật, việc cho Võ Nguyên Giáp vào tận Huế học tập là một cố gắng gần như quá sức của gia đình. Võ Nguyên Giáp biết rõ điều đó nên càng quyết chí học tập. Vừa đặt chân vào trường Quốc học, anh đã nghe tiếng những bạn học giỏi ở các lớp trên như Tạ Quang Bửu và Phan Bôi. Anh được học với các thầy giáo đầy tâm huyết như Võ Liêm Sơn (1888 - 1949), Cao Xuân Huy (1900 - 1983), Đặng Thai Mai (1902 - 1984)... Đây là thời gian mà ở Huế cũng như trên toàn quốc đang sôi nổi phong trào đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu, truy điệu Phan Châu Trinh. Tại Trường Quốc học Huế, Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), Võ Nguyên Giáp... tổ chức đi lấy chữ ký vào đơn gửi Toàn quyền Varenne đòi ân xá cho Phan Bội Châu. Trước áp lực đấu tranh của nhân dân Việt Nam, Pháp đã phải hủy bản án khổ sai chung thân cho Phan Bội Châu và đưa cụ về an trí tại Huế. Sự hiện diện của Phan Bội Châu ở Huế - người mà Nguyễn Ái Quốc đã mệnh danh là "Bậc anh hùng", "Vị thiên sứ", "Đấng xả thân vì độc lập" đã khuấy động mạnh mẽ nhiệt tình yêu nước của nhân dân, đặc biệt là thanh niên, học sinh của thành phố Huế vốn lặng lẽ, trầm mặc. Nhiều nhân sĩ, trí thức và thanh niên khắp cả nước, bất chấp sự theo dõi của mật thám, đã đến xin yết kiến cụ, để được nghe cụ bình thơ, hoặc giải đáp cho một vấn đề thế sự nào đó; cũng có lần cụ đến thăm trường Quốc học Huế. Một học sinh cũ, nhà thơ Khương Hữu Dụng đã gợi lại cuộc gặp gỡ đó: "Anh em học sinh chúng tôi tập trung trong sân chơi của trường. Bỗng rào rào như ong vỡ tổ, hàng ngũ học sinh xáo động. Một ông già quắc thước, áo dài thâm, quần vải trắng, với đôi mắt sáng quắc, chùm râu quai nón đốm bạc, xuất hiện uy nghi, trượng phu... Mọi người cố chen nhau đến gần cụ như muốn được nghe rõ hơn, thấu đáo hơn tiếng nói của con người gần như đã trở thành huyền thoại. Cụ già trìu mến nhìn đám học sinh trẻ. Giọng Nghệ An âm vang như tiếng cồng: "Anh em khỏi phải chen nhau, tôi nói to lắm, tận sân ngoài cũng có thể nghe rõ"... Cụ cứ láy đi láy lại một điệp khúc duy nhất, thức tỉnh: "Rượu tây, cơm tây, quần áo tây, xe tây, lầu tây... Học đường nô lệ, giáo dục nô lệ, nhân tài nô lệ, nô lệ ưu đẳng".

Mật thám Pháp nhận ra người cầm đầu phong trào học sinh Quốc học Huế là Nguyễn Chí Diểu. Nhân kỳ thi Toán cuối học kỳ Đệ nhị niên (1926 - 1927), Võ Nguyên Giáp ngồi bàn trước, Nguyễn Chí Diểu ngồi bàn sau, giám thị bèn vu cho Nguyễn Chí Diểu đã "copy" bài của Võ Nguyên Giáp và đuổi học anh. Sự thực thì Nguyễn Chí Diểu là một học sinh giỏi và không làm việc đó. Còn đối với Võ Nguyên Giáp thì Nguyễn Chí Diểu là người bạn thân thiết lớn tuổi, quen nhau ngay từ lớp ôn thi vào Quốc học Huế và cùng ở chung ký túc xá. Võ Nguyên Giáp đã viết đơn, trình bày với Hiệu trưởng sự oan uổng của Nguyễn Chí Diểu. Đơn bị trả lại, Võ Nguyên Giáp bèn bàn với Nguyễn Khoa Văn tổ chức bãi khóa. Học sinh nhiều trường khác, nơi ít nơi nhiều, như nữ học Đồng Khánh, Bách nghệ Thuận Hóa, cả Trường Hậu bổ Quốc Tử giám, Trường Chaigneau, Trường Paul Bert và Trường đạo Pèllerin đều lần lượt hưởng ứng. Cuộc bãi khóa của học sinh Trường Quốc học Huế đã biến thành cuộc bãi khóa của một bộ phận học sinh toàn thành phố. Sau 1 tháng phong trào tan dần, nhà cầm quyền công bố một danh sách học sinh bị đuổi học, đứng đầu sổ là Nguyễn Chí Diểu, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Khoa Văn, Phan Bôi...

Bị đuổi học, Võ Nguyên Giáp trở về quê. Năm 1928, quê hương Võ Nguyên Giáp có lụt to. Nguyễn Chí Diểu đi đò đến nhà, trao cho Võ Nguyên Giáp bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc tại cuộc họp của Liên đoàn các dân tộc bị áp bức trên thế giới ở Bruxelles (Bỉ). Lúc này, Nguyễn Chí Diểu là Uỷ viên Kỳ bộ Trung Kỳ của Tân Việt Cách mạng Đảng, đã thay mặt tổ chức kết nạp Võ Nguyên Giáp vào Tân Việt, sau đó, giới thiệu Võ Nguyên Giáp vào làm việc ở Huế, tại Nhà xuất bản Quan hải tùng thư do Đào Duy Anh sáng lập và ở báo Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng. Tại đây, Võ Nguyên Giáp bắt đầu học nghề làm báo, chuẩn bị cho giai đoạn hoạt động báo chí sôi nổi trong thời Mặt trận Bình dân.

Khoảng đầu tháng 10.1930, trong cuộc khủng bố Xô Viết Nghệ - Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và bị giam ở nhà lao Thừa phủ (Huế), cùng với người yêu là Nguyễn Thị Quang Thái, em trai là Võ Thuần Nho và các thầy giáo Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng... Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp được trả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế tiếp tục làm báo Tiếng dân, Võ Nguyên Giáp bèn trở về quê rồi ra Hà Nội, miệt mài tự học chương trình hai lớp đệ tam, đệ tứ trung học và chương trình bằng Tú tài phần I. Lúc này, Trường Trung học Albert Sarraut tại Hà Nội mở một lớp thí sinh tự do cho những ai muốn dự thi Tú tài phần II. Võ Nguyên Giáp đăng ký thi và đã đỗ đầu. Bạn học cùng lớp này có Phạm Huy Thông. Sau khi có bằng tú tài toàn phần, Võ Nguyên Giáp được nhận vào dạy ở Trường tư thục Thăng Long về Lịch sử và Pháp văn.

Thời gian này, phong trào Mặt trận Bình dân sôi nổi ở nước ta, nhất là ở các thành phố lớn. Cùng với đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp lãnh đạo các báo Đảng tại Hà Nội, trực tiếp thành lập báo Le Travail (Lao động) và được bầu làm Chủ tịch Báo giới Bắc Kỳ.

Song song với các hoạt động trên, Võ Nguyên Giáp ghi tên học Trường Luật của Đại học Đông Dương, chú trọng về Luật kinh tế. Chế độ học ở đây, số giờ lên lớp nghe giảng thì ít, nhưng giáo trình và tài liệu tham khảo phải mang về nhà tự nghiên cứu thì rất nhiều và cuối năm phải qua một kỳ thi kiểm tra. Võ Nguyên Giáp đã ôm sách ra bờ đê sông Hồng tìm một nơi vắng vẻ để ôn thi. Đặc biệt, Võ Nguyên Giáp đã dự cuộc thi sinh viên giỏi toàn Đông Dương với đề tài: Cán cân thanh toán và cán cân thương mại của Đông Dương và đã đoạt giải nhất. Giáo sư Khérian, phụ trách giảng dạy môn Luật ở Đại học Đông Dương đã đánh giá luận văn này nội dung sáng sủa, có phương pháp và có bản sắc cá nhân. Giáo sư cũng cho biết: theo thể lệ quy định, người đoạt giải nhất sẽ được cấp học bổng đi du học Pháp nhưng cần điều chỉnh nhãn quan chính trị. Võ Nguyên Giáp đã trả lời: "Cám ơn nhưng niềm tin của tôi đã được xác định".

Cũng trong thời gian học ở trường Albert Sarraut và Trường Luật ở Hà Nội, Võ Nguyên Giáp đã cộng tác với một giáo sư khác là Pierre Gourou, giúp ông thu thập thông tin và dữ liệu về các kiểu nhà ở của nông dân miền Trung và nhất là thực trạng đời sống của nông dân Việt Nam. Đây là một vấn đề Võ Nguyên Giáp đã quan tâm ngay từ khi chứng kiến tình cảnh nghèo khổ của bà con nông dân ở quê nhà. Trong hoạt động báo chí, bên cạnh các bài về các cuộc đình công của công nhân nhà máy xe lửa Trường Thi, Nhà máy sợi Nam Định... Võ Nguyên Giáp còn viết nhiều bài phơi bày cuộc sống cực khổ của nông dân. Với bút danh Vân Đình, Võ Nguyên Giáp đã cộng tác với Trường Chinh (ký bút danh là Qua Ninh) viết cuốn "Vấn đề dân cày" (1937).

Cùng với C. Robequain, tác giả cuốn "Tỉnh Thanh Hóa" (1929), P.Gourou là một nhà địa lý nhân văn chuyên nghiên cứu về nông thôn nhiệt đới châu Á. Ông quan tâm tìm hiểu mối quan hệ tương hỗ giữa con người và môi trường tự nhiên. Tháng 8.1994, trong lần gặp nhà dân tộc học người Hà Lan John Kleinen đến phỏng vấn ông tại nhà riêng ở Bruxelles, vị giáo sư già đang tiến đến tuổi thọ 100 này vẫn còn minh mẫn gợi lại một vài đức tính của người học trò cũ của mình: chăm chú nghe giảng, tò mò tìm hiểu, trí tuệ sớm phát triển... Ông cũng cho biết, ông đã không nêu đích danh tên người cộng tác quý báu khi xuất bản công trình chỉ vì ở thời điểm đó Võ Nguyên Giáp đang là một cựu chính trị phạm. Sự cộng tác giữa một giáo sư người Pháp và một sinh viên người Việt, khuynh hướng tư tưởng khác nhau, diễn ra trong hoàn cảnh chủ nghĩa thực dân Pháp còn thống trị ở Việt Nam, phải chăng có thể xem đó là một biểu hiện có ý nghĩa của sự gặp gỡ về văn hóa?

Tháng 5.1940, một chiều thứ sáu, sau giờ dạy cuối cùng ở trường tư thục Thăng Long, Võ Nguyên Giáp đi lên Hồ Tây như thể đi hóng gió. Dưới một gốc cây trên đường Cổ Ngư, người vợ trẻ của ông - Nguyễn Thị Quang Thái - bế con gái nhỏ đầu lòng chưa đầy năm, đang chờ sẵn. Họ chỉ kịp trao đổi với nhau vài lời từ biệt; cả hai đều không ngờ đó lại là lần gặp nhau cuối cùng. Cùng với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp vượt biên giới sang Trung Quốc. Tại Côn Minh, lần đầu tiên Võ Nguyên Giáp được gặp nhân vật huyền thoại của cách mạng Việt Nam - Nguyễn Ái Quốc, mà trước đó ở Trường Quốc học Huế ông chỉ mới được thấy hình ảnh Nguyễn Ái Quốc đội mũ phớt đen trong một bức ảnh cũ đã mờ. Bấy giờ Nguyễn Ái Quốc đã mang một tên mới: Hồ Chí Minh. Có thể nói, ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên này, nhà cách mạng tinh tường và từng trải đã phát hiện ra Võ Nguyên Giáp.

Hồ Chí Minh đã cử Võ Nguyên Giáp đi Diên An, căn cứ địa của Cách mạng Trung Quốc, nhưng mới được nửa đường thì ông được lệnh phải gấp rút quay về nước. Tình hình thế giới đang chuyển biến mau lẹ, tạo ra cho cách mạng Việt Nam những thời cơ mới.

Tháng 12.1944, tại chiến khu Cao - Bắc - Lạng, Võ Nguyên Giáp được cử làm chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Cách mạng thành công, ông được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và từ đầu năm 1948, sau Chiến thắng Việt Bắc, ông được phong quân hàm Đại tướng, Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ Việt Nam.

Tại Đại hội II, III, IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, ông đã được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và là Uỷ viên Bộ Chính trị. Ông là đại biểu Quốc hội Việt Nam từ khóa I đến khóa VIII. Có thể nói, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ và trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, Võ Nguyên Giáp luôn là một trong những nhân vật lịch sử đứng ở hàng đầu trong cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Trong số các nhà lãnh đạo Việt Nam thời hiện đại, có lẽ Võ Nguyên Giáp là nhân vật được đề cập và bàn luận nhiều nhất ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Nhà sử học quân sự người Mỹ Cecil Currey đã ca ngợi ông "Chiến thắng bằng mọi giá - Võ Nguyên Giáp, thiên tài của Việt Nam" nhưng sẽ là xác đáng hơn nếu nói như một đồng đội của ông - Thượng tướng Trần Văn Trà: Võ Nguyên Giáp là vị Tổng tư lệnh biết quý từng giọt máu của chiến sĩ, hay như nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam người Ý, Pino Tagliazucchi, người đã đến Hà Nội phỏng vấn Võ Nguyên Giáp về quá trình chuyển biến tư tưởng từ Phan Bội Châu sang Nguyễn Ái Quốc, đã viết: "Nên tránh việc trình bày Võ Nguyên Giáp như một vị tướng cổ điển, một diện mạo kiểu Napoléon, trái lại, Võ Nguyên Giáp là một nhà chiến lược thực sự vĩ đại một cách đương đại và là một nhà chính trị". Do những cống hiến của ông, Võ Nguyên Giáp đã được thưởng Huân chương Sao vàng, huân chương cao quý nhất của Đảng và Nhà nước./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

01. Hồng Cư: Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2004, trang 56.

02. Đặc san kỷ niệm Quốc học Huế 95 năm (1896 - 1991).

03 Nguyễn Ái Quốc: Những trò lố hay là Varenne và Phan Bội Châu, báo Le Paria, số 36-37, tháng 9 - 10.1925.

04 Đặc san kỷ niệm Quốc học Huế 95 năm (1896 - 1991).

05 Nguyễn Thành: Hoạt động báo chí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, NXB Lý luận Chính trị, 2005.

06 Gourou, Pierre: Les Paysans du Delta tonkinois, Étude de géographie humaine, Paris, Les Edition d’Art et d’Histoire, 1936 (Publications de l’EFEO).

07 06 Gourou, Pierre: Esquisse d’une Étude de l’habitation Annamite dans l’Annam Septentrional et central du Thanh hoa au Binh dinh, Paris, les Editions d’Art et d’Histoire, 1936 (Publications de l’EFEO).

08 Pierre Gourou, Tunis 1900 - Bruxelles, 1999.

09 John Kleinen: Ethnographic Praxis and the Colonial State in Vietnam, Báo cáo tại Hội thảo quốc tế EuroViet ở Aix - en - Provence, tháng 5.1995, in trong Vietnam - Sources el Approches, Đại học Provence, 1996, tr.15-48.

10 John Kleinen: Tropicality and Topicality: Pierre Gourou and the genealogy of French colonial scholarship on rural Vietnam, in trong Singapore Journal of Tropical Geography, 2005, tr.339-358.

11 Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, NXB Văn học, HN, 1976, tr.24-28.

12 Cecil Currey, Victory at Any Cost - Genius of Vietnam’s Gen, Vo Nguyen Giap, Brassey’s INC, Washington - London, 1997.

13 Trần Văn Trà: Tổng tư lệnh biết quý từng giọt máu mỗi chiến binh, báo Tiền phong, xuân Canh Thìn, 2000.

14 Pino Tagliazucchi: Võ Nguyên Giáp, Contributo per una Biografia, Tạp chí Việt Nam (Quaderni Vietnamiti) số 2, 2003.


DANHNHANVIET tuyển chọn và thu thập tư liệu cho chuyên mục Võ Nguyên Giáp


Tư liệu Võ Nguyên Giáp trên Danh nhân Việt (http://danhnhanviet.blogspot.com)

1) Nhân cách lớn của đại tướng Võ Nguyên Giáp
2)Tướng Giáp trí tuệ bậc Thầy
3)Võ Nguyên Giáp sao sáng trời Nam
4)Võ Nguyên Giáp vị nhân tướng khuyến học
5)Võ Nguyên Giáp thiên tài quân sự
6)Đại tướng Võ Nguyên Giáp chân dung một huyền thoại
7)Võ Nguyên Giáp đọc lại và suy ngẫm
8)Đọc lại và suy ngẫm Tết Mậu Thân 1968
9) Võ Nguyên Giáp vị tướng của lòng dân
10) Đại tướng Võ Nguyên Giáp những câu nói bất hủ

Video yêu thích

Võ Nguyên Giáp trong cuộc trường chinh thế kỷ


Đại tướng Võ Nguyên Giáp Tập 1 (Phần 1)


Đại tướng Võ Nguyên Giáp tập 2 (phần 3)

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn

Võ Nguyên Giáp sao sáng trời Nam



Trần Chiến Thắng, TTCT.

DANGNHANVIET. 30 năm ở thế kỷ 13, dân tộc ta đánh thắng ba cuộc tiến công của đế chế Nguyên Mông dưới sự thống lĩnh của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và 30 năm đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh ở thế kỷ 20, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự chỉ huy của tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Không phải ngẫu nhiên mà khi bình chọn danh tướng thế giới, các nhà khoa học lịch sử quân sự nhiều nước đã bình chọn hai vị thống soái của Việt Nam có chiến công nổi bật nhất tiêu biểu cho hai thời đại đó là Trần Quốc Tuấn và Võ Nguyên Giáp! Nhiều người cho rằng tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp xứng đáng là anh hùng dân tộc, và cùng có chung nhận xét: “Một trong muôn vàn biểu hiện sự sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã phát hiện sớm và trọng dụng đúng nhân tài, chọn Võ Nguyên Giáp làm người phụ trách công tác quân sự của Đảng ta”.

Ngày 22-12-1949, trong thư gửi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích nhân kỷ niệm năm năm ngày thành lập quân đội, Bác Hồ viết: “Quân đội ta quen gọi Đại tướng tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp là anh cả. Cách gọi thân ái ấy rất đúng với tinh thần và lịch sử của quân đội ta...”.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã có vinh dự và trách nhiệm lớn là người xây dựng và chỉ huy quân đội ta từ ngày đầu thành lập, một đội quân du kích với 34 chiến sĩ và vài chục khẩu súng trường, súng kíp thô sơ đã từng bước lớn lên thành những trung đoàn, đại đoàn thiện chiến để làm nên một Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”.

Đội quân du kích ngày ấy lại đã vươn lên chính qui hiện đại với những sư đoàn, quân đoàn hùng mạnh, để đi đến một mùa xuân toàn thắng! Qua hơn 30 năm xây dựng và chiến đấu, đội quân đó đã cùng toàn dân đánh bại quân đội xâm lược của hai đế quốc lớn, giành lại độc lập thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc, được nhân dân cả nước gọi bằng cái tên trìu mến là bộ đội cụ Hồ. Đồng chí Võ Nguyên Giáp là người có công đầu trong việc tạo nên hình ảnh đó qua “Mười lời thề danh dự” do ông soạn thảo.

Dù chưa trải qua một học viện hay trường lớp quân sự nào nhưng ý thức trách nhiệm cao trước vận mệnh của Tổ quốc, đồng chí đã biết trân trọng di sản quân sự quí báu của dân tộc, nghiên cứu các tác phẩm quân sự cổ kim đông tây, đặc biệt là trong thực tiễn cách mạng VN. Sau khi đánh thắng quân đội xâm lược Pháp, sớm thấy nguy cơ xâm lược của đế quốc Mỹ với tiềm lực quân sự lớn và vũ khí trang bị hiện đại hơn quân Pháp nhiều lần, đồng chí đã đề nghị khẩn trương xây dựng quân đội ta từ đơn thuần bộ binh thành một quân đội gồm nhiều binh chủng và quân chủng để sẵn sàng đánh bại tên đế quốc đầu sỏ.

Đồng chí đã cùng nhiều cán bộ cao cấp của quân đội đi nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng chính qui và tác chiến hiệp đồng binh quân chủng của Liên Xô, vận dụng sáng tạo để đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ trên miền Bắc.

Thượng tướng - giáo sư Hoàng Minh Thảo, nguyên giám đốc Học viện Quân sự cấp cao, tư lệnh mặt trận Tây nguyên - có lần đã nói (1981): “Võ Nguyên Giáp là bậc thầy về cách đánh. Ông luôn tìm ra cách đánh độc đáo và sáng tạo, vừa đảm bảo thắng lợi cao nhất cho trận đánh, vừa hạn chế đến mức thấp nhất thương vong cho tướng sĩ. Ông là vị thống soái có tài thao lược kiệt xuất...”.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã viết và cho xuất bản gần 100 tác phẩm bao gồm các luận văn về tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối quân sự của Đảng, về nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, về chiến tranh nhân dân đất đối không, chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển, về vũ trang quần chúng cách mạng đi đôi với xây dựng quân đội nhân dân, về chiến thắng Điện Biên Phủ cùng các tập hồi ký từ thời kỳ đầu thành lập quân đội đến khi kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ, về các đề tài kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật...

Với bao nhiêu tác phẩm quan trọng ấy, Võ Nguyên Giáp vừa là nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hóa, nhà khoa học, nhà lý luận quân sự hàng đầu của VN trong thời đại Hồ Chí Minh.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp không chỉ là một tổng tư lệnh “văn võ song toàn” mà còn là một người chỉ huy “đức tài trọn vẹn”, xứng đáng là học trò gần gũi và xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


“...là một tổng tư lệnh biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh”

Có mặt ở Điện Biên Phủ trong những tháng ngày gian khổ đó, nhà văn Nguyễn Đình Thi từng nhận xét: “Một vị tổng tư lệnh, đồng thời là người chỉ huy chiến dịch mà viết thư gửi chiến sĩ với những lời thân mật như anh em, quả là điều hiếm thấy trong chiến tranh các nước!”. Cố thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, nói: “Võ Nguyên Giáp là tư lệnh của các tư lệnh, chính ủy của các chính ủy”, “là một tổng tư lệnh biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh”.

Xúc động trước tình cảm của người chỉ huy cao nhất của quân đội đối với các liệt sĩ hi sinh trên đỉnh đèo Phulênhích, trung tướng Đồng Sĩ Nguyên - nguyên tư lệnh binh đoàn 559 - viết trong hồi ký: “Những giọt nước mắt dành cho những chiến sĩ vĩnh viễn nằm lại trên trọng điểm này của vị tổng tư lệnh giữa chiều Trường Sơn thật sự thấm đậm tình người, lắng sâu trong tâm khảm chúng tôi, không thể nào quên được!”.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp có hạnh phúc lớn là được sự tin yêu và ngưỡng mộ hầu như tuyệt đối của toàn quân và toàn dân, sự kính trọng của nguyên thủ quốc gia nhiều nước và bạn bè quốc tế. Đồng chí lại có hạnh phúc lớn là người sống lâu nhất trong những người lãnh đạo chủ chốt của Đảng và quân đội ta kể từ thời kỳ tiền khởi nghĩa đến nay.

Ở nước ta, cũng ít thấy vị nào mấy chục năm sau khi rời khỏi cương vị lãnh đạo mà hằng năm, đến các dịp kỷ niệm sinh nhật, ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 30-4 và ngày thành lập Quân đội nhân dân lại được các vị cách mạng lão thành, đông đảo cựu chiến binh, các học trò cũ và đại diện các tầng lớp nhân dân trên cả nước mang những lẵng hoa tươi thắm hay những bức trướng với những câu thắm đậm nghĩa tình lần lượt đến chúc mừng. Hàng trăm đoàn, hàng ngàn người kế tiếp nhau, phải nhiều ngày mới hết!

Các tướng lĩnh, sĩ quan nguyên là cán bộ, học viên khóa 1 Trường võ bị Trần Quốc Tuấn tặng trướng:

Theo Bác, vì dân, tầm vũ súy,
Thao lược, quân công sánh Lý Trần,
Đẹp chín mươi mùa xuân thế kỷ,
Sao vàng lấp lánh nét nhân văn.

Đảng bộ và nhân dân quê hương Quảng Bình đề tặng:

Quảng bá uyên thâm vị tướng tài,
Bình sinh nợ nước nặng hai vai,
Ghi sâu công trạng ngời trang sử,
Ơn nghĩa nhân sinh thắm đượm hoài.

Đại tá, nhà văn Nguyễn Trần Thiết vừa làm một bài thơ mừng đại tướng tròn 97 tuổi với những câu ca ngợi như sau:

Dù có truy tìm lịch sử khắp đông tây kim cổ,
Từ trước Công nguyên cho đến ngày 25-8-2007 của thế kỷ 21 này,
Vẫn không có người thứ hai,
Mừng đại, đại thọ 97 xuân,
Hãnh diện, hiên ngang đeo lon đại tướng.

...

Nếu có mời các nhà bác học châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ, châu Đại Dương,
Cùng soi tìm chỉ thấy người duy nhất nêu gương,
Tròn 59 năm, tính từ ngày làm lễ thụ phong đã có 21.535 ngày,
Anh Võ Nguyên Giáp mang trên vai quân hàm đại tướng.
Anh là tướng trong lòng dân.

...

Anh là vĩ nhân
Sẽ sống mãi mãi trong dân vạn đời.

Đây thật sự là phần thưởng vô giá dành cho một trong những vị khai quốc công thần, xứng đáng với 10 chữ vàng: “Võ công truyền quốc sử, văn đức quán nhân tâm” (tạm dịch: Chiến công lưu truyền lịch sử dân tộc/ Nhân văn đức độ thấu tận lòng người) do Viện Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh kính tặng.

Nhớ lại đầu năm 1948, sau khi quân và dân ta đánh bại cuộc tiến công lớn của quân Pháp vào căn cứ địa Việt Bắc do đại tướng Valluy - tổng chỉ huy quân viễn chinh xâm lược Pháp - chỉ huy, Trung ương Đảng và Chính phủ lần đầu tiên phong quân hàm cho một số đồng chí lãnh đạo và chỉ huy quân đội, đồng chí Võ Nguyên Giáp được phong hàm đại tướng. Khi sự kiện này được công bố trên Đài Tiếng nói VN, một nhà báo phương Tây hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì sao một lúc phong nhiều tướng tá như vậy? Việc phong cấp này dựa theo những tiêu chuẩn nào? Hồ Chủ tịch trả lời ngắn gọn: “Đánh thắng đại tá phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng phong thiếu tướng, thắng trung tướng phong trung tướng, thắng đại tướng phong đại tướng”. Cho đến nay nguyên tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã mang quân hàm đại tướng gần 60 năm!

Sau 30 năm tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc, trên cương vị tổng tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ đánh thắng một đại tướng đối phương, mà đã lần lượt đánh thắng bảy đại tướng tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp và ba đại tướng tổng chỉ huy quân đội xâm lược Mỹ! Trong khi nêu cao vai trò quyết định của quần chúng nhân dân, chủ nghĩa Mác - Lênin không bao giờ phủ định vai trò của các nhân vật, của cá nhân trong lịch sử!

Một tờ báo ở TP.HCM từng viết: “Dàn nhạc hay phải có nhạc trưởng giỏi, trận đánh thắng phải có người chỉ huy tài...”, lôgic sơ đẳng đó không thể bỏ qua vì lý do “đề cao công lao tập thể”! Theo lôgic ấy và lập luận đầy sức thuyết phục của Bác Hồ khi phong quân hàm năm 1948 thì sau khi đánh thắng 10 đại tướng đối phương, tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp lẽ ra phải được phong hàm nguyên soái từ lâu! Đó cũng là nguyện vọng chung của đông đảo cựu chiến binh và tuyệt đại đa số đồng bào cả nước.

Nguyện vọng đó đã từng được một đại biểu của thành phố mang tên Bác trình bày trước Quốc hội cách đây hơn 10 năm. Đây không chỉ là việc của một cá nhân mà là niềm vinh dự và tự hào chung, là sự tôn vinh một trong hai thời đại chống ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc, thời đại đánh thắng những tên xâm lược quốc tế có tham vọng làm bá chủ toàn cầu! Đó là 30 năm ở thế kỷ 13, dân tộc ta đánh thắng ba cuộc tiến công của đế chế Nguyên Mông dưới sự thống lĩnh của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và 30 năm đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh ở thế kỷ 20, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự chỉ huy của tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp.

Không phải ngẫu nhiên mà khi bình chọn danh tướng thế giới, các nhà khoa học lịch sử quân sự nhiều nước đã bình chọn hai vị thống soái của Việt Nam có chiến công nổi bật nhất tiêu biểu cho hai thời đại đó! Nhiều người cho rằng tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp xứng đáng là anh hùng dân tộc, và cùng có chung nhận xét: “Một trong muôn vàn biểu hiện sự sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã phát hiện sớm và trọng dụng đúng nhân tài, chọn Võ Nguyên Giáp làm người phụ trách công tác quân sự của Đảng ta”.

TRẦN CHIẾN THẮNG
TP.HCM, tháng 12-2007

- Ducan Townson, tác giả cuốn Những vị tướng lừng danh xuất bản ở London, đã viết: “Võ Nguyên Giáp là một trong 21 vị danh tướng của thế giới trong 25 thế kỷ qua, từ thời Alexandre Đại đế đến Hannibal rồi đến thời cận hiện đại với Kutudôp, Giucôp..., những người đã có chiến công tạo nên bước ngoặt của nghệ thuật chiến tranh”.

- Tân bách khoa toàn thư của nước Anh (xuất bản năm 1985) trong chuyên mục giới thiệu các danh tướng thế giới từ thời cổ đại cho đến ngày nay, cùng với Hannibal, Kutudôp, Napoléon... đã giới thiệu hai danh tướng VN là Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn (tập 10, tr.88) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (tập 10, tr. 493-494).

- Tướng Peter Mac Donald, nhà nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự người Anh, đánh giá: “Từ năm 1944-1975, cuộc đời của Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, khiến ông trở thành một trong những thống soái lớn của mọi thời đại. Với 30 năm làm tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở cấp cao nhất, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính qui. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có”.

- G.Bonnet, trong Từ điển bách khoa toàn thư Pháp, cũng đã viết: “Là người tổ chức quân đội nhân dân, ông Giáp đã thực hiện được một sự tổng hợp độc đáo các học thuyết quân sự mácxít kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, vận dụng khôn khéo vào những điều kiện của một quốc gia có đất đai tương đối hẹp”.

- Tướng Mỹ Westmoreland thừa nhận: “Ông Giáp có tất cả những đức tính của một thống soái quân sự lớn, đó là sự quả đoán, tính kiên quyết, sức mạnh tinh thần, khả năng tập trung suy nghĩ và hành động, trí thông minh”.

- Nhà sử học quân sự Mỹ Cecil Curay, trong tác phẩm Chiến thắng bằng mọi giá - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài của Việt Nam, sau khi điểm qua quá trình chỉ huy quân đội của vị tổng tư lệnh, đã nhận xét: “Trong suốt thời gian đó, ông không chỉ trở thành một huyền thoại mà có lẽ còn trở thành một thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ 20 và một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của tất cả các thời đại...

Ông Giáp là vị tướng duy nhất trong lịch sử hiện đại tiến hành chiến đấu chống kẻ thù từ thế vô cùng yếu, thiếu trang bị, thiếu nguồn tài chính, dù mới đầu trong tay chưa có quân, vậy mà vẫn liên tiếp đánh bại tàn quân của đế chế Nhật Bản, quân đội Pháp (một đế chế thực dân số 2) và quân đội Mỹ (một trong hai siêu cường thế giới)... Ông Giáp là chuyên gia hiện hữu vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân..., là một vị tướng hậu cần vĩ đại của mọi thời đại”.

- Bách khoa toàn thư quân sự Bộ Quốc phòng Mỹ (xuất bản năm 1993) viết: “Tài thao lược của tướng Giáp về chiến lược, chiến thuật và hậu cần được kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao... Sức mạnh hơn hẳn về kinh tế, tính ưu việt về công nghệ cùng với sức mạnh áp đảo về quân sự và hỏa lực khổng lồ của các quốc gia phương Tây đã phải khuất phục trước tài thao lược của một vị tướng từng một thời là thầy giáo dạy sử”.

Tuoi Tre Online
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=235320&ChannelID=119

Chín tư liệu Võ Nguyên Giáp trên Danh nhân Việt (http://danhnhanviet.blogspot.com)

1) Nhân cách lớn của đại tướng Võ Nguyên Giáp
2)Tướng Giáp trí tuệ bậc Thầy
3)Võ Nguyên Giáp sao sáng trời Nam
4)Võ Nguyên Giáp vị nhân tướng khuyến học
5)Võ Nguyên Giáp thiên tài quân sự
6)Đại tướng Võ Nguyên Giáp chân dung một huyền thoại
7)Võ Nguyên Giáp đọc lại và suy ngẫm
8)Đọc lại và suy ngẫm Tết Mậu Thân 1968
9) Võ Nguyên Giáp vị tướng của lòng dân

Video yêu thích

Võ Nguyên Giáp trong cuộc trường chinh thế kỷ


Đại tướng Võ Nguyên Giáp Tập 1 (Phần 1)


Đại tướng Võ Nguyên Giáp tập 2 (phần 3)

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2008

GS.TS Hoàng Xuân Sính: "Học không biết mỏi, dạy người không biết chán"


Mai Thục

Ảnh GS.TS Hoàng Xuân Sính

DANHNHANVIET. Thăng Long- Hà Nội nghìn tuổi, có Đại học tư thục Thăng Long- không vì chia lợi nhuận, là mơ ước của Phan Bội Châu và các sĩ phu đầu thế kỷ XX. Phan Chu Trinh- Phan Bội Châu đã sang Nhật Bản học Khánh Ứng Nghĩa Thục- đại học tư thục đầu tiên, do học giả uyên bác thời Minh Trị là Fukuzawa Ykichi (1835-1901) lập 1868. “Nghĩa thục” là “public school” của người Anh, mang ý nghĩa tự cường, độc lập, sáng tạo, óc tháo vát, lòng tự nguyện đóng góp vào các việc công ích, góp phần làm cho sự nghiệp Duy Tân, học tập phương Tây của Nhật Bản thành công, rạng danh nước Nhật. Đầu 1905, các cụ mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội, được chín tháng, bị thực dân Pháp đóng cửa. Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, Đại học Thăng Long chắp cánh ước mơ của Thăng Long- Hà Nội. Mọi hy vọng hãy đến với tất cả những ai học tập, giảng dạy, nghiên cứu tại đây.


Đại học Thăng Long tròn 20 tuổi. Cựu sinh viên giàn giụa nước mắt, gặp lại cô giáo kính yêu Hoàng Xuân Sính. Người đã táo bạo cùng một số nhà Toán học và các cộng sự mở Đại học dân lập Thăng Long đầu tiên trên đất nước Việt Nam 20 năm trước. Hai mươi năm Đại học Thăng Long, cũng là hai mươi năm cuộc đời Hoàng Xuân Sính đam mê, không biết mỏi, đi cùng chặng đường gập ghềnh, gian khổ, xây dựng Đại học Thăng Long. Câu chuyện bà kể trước hàng nghìn sinh viên, giáo sư, giảng viên… hôm nay, gắn với sự tìm tòi, đổi mới giáo dục đại học của đất nước ta. Đại học Thăng Long làm mô hình thí điểm cho những bước đổi mới đó.

Đại học Thăng Long ra đời ngày 15-12-1988- trải qua bồn giai đoạn gắn liền với sự ra đời của các Qui chế đại học dân lập và tư thục mà Nhà nước ban hành.

Giai đoạn 1988- 1994. Trường mang tên Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long với xứ mạng quan trọng là thực hiện mô hình cho toàn quốc về đại học tự chủ tài chính. Chữ “dân lập” trường đề nghị, để tránh chữ “tư thục” do xã hội chưa chấp nhận. Chữ “Trung tâm” là một ước mơ, tương lai Thăng Long sẽ là một trung tâm những trường Đại học, nghĩa là có những trường con trong Đại học Thăng Long. Lúc này Nhà nước chưa có qui chế Đại học dân lập. Đại học Thăng Long vừa hoạt động, vừa suy nghĩ, đóng góp vào việc soạn thảo qui chế.

Giai đoạn 1994- 2000. Sau khi xác định mô hình thí điểm Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long đạt hiệu quả, Nhà nước ban hành Qui chế tạm thời Đại học dân lập. Từ qui chế này, hàng loạt các trường đại học dân lập đã ra đời trong cả nước. Đại học Thăng Long chính thức mang tên Trường Đại học dân lập Thăng Long.

Giai đoạn 2000 -2007. Đại học Thăng Long cùng một số các trường Đại học dân lập khác, tạo mô hình bền vững, để Nhà nước chính thức ban hành Qui chế trường Đại học dân lập. Qui chế này không khác lắm so với qui chế tạm thời.



GS.TS Hoàng Xuân Sính trong giờ dạy toán tại trường ĐH Thăng Long năm 1988.

Giai đoạn 2007 đến nay. Nhà nước ban hành Qui chế Trường Đại học tư thục. Ngày 31-12- 2007, Đại học Thăng Long là trường “Đại học tư thục” đầu tiên theo chế độ “không vì mục tiêu chia lợi nhuận”. Mục tiêu này được kiểm toán và thuế xác định thường xuyên.

GS Hoàng Xuân Sính nhấn mạnh: “ Sau 20 năm hoạt động, Thăng Long đã hiểu sâu sắc rằng tổ chức của một trường Đại học ngoài công lập có vững mạnh hay không, phụ thuộc rất nhiều vào qui chế. Qui chế có thể giúp trường cất cánh bay hay đưa trường đi tới đóng cửa.”

Hai mươi năm. Đại học Thăng Long trung thành với sứ mạng đề ra ban đầu là hoạt động trên nguyên tắc không vì lợi nhuận, tạo môi trường giáo dục lành mạnh, tôn trọng tính trung thực, tình yêu thương và tinh thần hợp tác. Đào tạo sinh viên ở bậc đại học và sau đại học với chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu nhân lực có tri thức của xã hội, tiếp cận với giáo dục tiến bộ toàn cầu. Triển khai nghiên cứu khoa học trong trường, tạo một đội ngũ nghiên cứu khoa học để giảng dạy tốt. Xây dựng trường thành một Trung tâm văn hóa, khoa học và công nghệ…

Đại học Thăng Long, năm 1988, từ Khoa Toán- Tin chỉ có một lớp với 85 sinh viên, nay đã có các ngành đào tạo: Khoa Toán- Tin: Toán- Tin ứng dụng, Khoa học máy tính, Mạng máy tính và viễn thông, Hệ thống thông tin quản lý… Khoa quản lý: Kế toán, Tài chính- Ngân hàng, Quản trị kinh doanh, Quản lý bệnh viện… Khoa Ngoại ngữ: Tiếng Anh, Tiếng Nhật, Tiếng Pháp, Tiếng Trung Quốc, Tiếng Ý… Khoa xã hội và Nhân văn: Công tác xã hội, Việt Nam học. Khoa Điều dưỡng. Khoa khoa học sức khỏe: Y tế cộng đồng… với khoảng 7000 sinh viên theo học.

Đại học Thăng Long không chạy theo số lượng đầu vào. Chú trọng rèn sinh viên học để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Hệ thống tín chỉ giúp sinh viên có thể tận dụng thời gian học để ra trường trước thời hạn, hoặc kéo dài nếu gặp khó khăn. Bạn Đoàn Tiến Đạt (Tài chính- Ngân hàng khóa 18) đoạt hai bằng loại giỏi trong hai năm- “siêu nhân” hiện đã đi làm. Tín chỉ còn giúp sinh viên tự chọn chương trình học hợp khả năng, sở thích. Theo số liệu điều tra sinh viên có việc làm trong ba tháng ra trường là 92,7%, riêng Tin học là 95%. Hội Cựu sinh viên Thăng Long hằng năm đến ngày 15-12 về trường tặng học bổng bằng tiền riêng của mình cho đàn em đang học và giúp tạo việc làm… Giám đốc Tài chính công ty CP Dược phẩm UPI, Triệu Đức Hạnh (Toán- Tin khóa 5) nói: “Trường hay, trường giỏi là nhìn vào sinh viên ra trường”.

Hai mươi năm Đại học Thăng Long. Nhiều sinh viên thành đạt trong đời, người ở lại trường tiếp tục giảng dạy và học thạc sĩ, tiến sĩ, người du học: Pháp, Anh, Mỹ, Úc… Họ tự hào biết ơn Đại học Thăng Long, nhớ từng thầy, cô đã hết lòng dạy và yêu mến, tôn trọng sinh viên, cho họ được tự chủ, sáng tạo, được nhận xét thầy cô, đặc biệt là không ai mua bằng, bán điểm...

Sinh viên Thăng Long luôn được dạy cách làm người trung thực. Giám đốc Công ty Giải pháp phần mềm SSE Trần Duy Tăng (Toán- Tin khóa 10) không quên một lần thi quay cóp bị phạt thẻ vàng, cô Hoàng Xuân Sính gọi lên phòng chia sẻ: “ Mình có sao làm thế, có sao nói thế. Nếu đã một lần nói dối thì sẽ có những lần tiếp theo và cứ thế, mình sẽ sống trong dối trá”. Lời khuyên của cô Sính “Để thành người thì mình không nên trí trá” đã theo Tăng trong đời, giúp anh trở thành người “sống thật” và trưởng thành…

Nhờ giữ đúng mục tiêu “Không vì chia lợi nhuận” Đại học Thăng Long đã chiếm được niềm tin của Nhà nước, nhân dân và các trường đại học nước ngoài. Năm 1990, trường Đại học Quản lý Paris, Đại học Toulouse 1 nổi tiếng về Kinh tế, Đại học Nice nổi tiếng về Tin học, Đại học Sophia, Antipolis… đã đến Đại học Thăng Long, chia sẻ kinh nghiệm, tri thức, máy tính, học bổng cho thầy và trò… Tiến sĩ Toán học Phan Huy Phú, hiện là hiệu trưởng Đại học Thăng Long được nhận học bổng của Đại học Quản lý Paris. Thầy Phú đam mê Toán, vừa làm hiệu trưởng, vừa dạy Toán. Sinh viên kêu Toán rất khó mà vẫn say mê học vì kính trọng thầy, và hiểu giá trị của Toán học sẽ đem lại trí tuệ cho mình và sự phồn vinh cho đất nước…



Giờ lên lớp của sinh viên Thăng Long

Hai mươi năm, Hoàng Xuân Sính tụ hội được các nhà Toán học, giáo sư, giảng viên, cộng sự… tâm huyết cùng bà mở Đại học Thăng Long bởi chính bà là một tấm gương, một ngọn nến tỏa sáng tư tưởng, tri thức và tình yêu cho giống nòi, từ những nền giáo dục mà bà đã được thụ hưởng: gia đình, Thăng Long- Hà Nội và nước Pháp…

Năm 1959. Hoàng Xuân Sính đỗ thạc sĩ Toán tại Pháp. Cô nữ sinh Hà Nội duyên dáng, giỏi giang, khiến người Pháp kính nể, không mơ cuộc sống giàu sang, đã chọn con đường trở về Tổ quốc. Sau nhiều đêm day dứt, cặp vợ chồng trẻ chia hai ngả. Hoàng Xuân Sính ôm con trai vàng ngọc rời Paris hoa lệ về Hà Nội. Nơi bà đã sinh ra trong một gia đình danh sĩ tại làng Cót –Từ Liêm- Hà Nội. Nơi số nhà 102- Hàng Bông, cha mẹ bà đã mở xưởng dệt mang tên Tấn Thanh. Cụ thân sinh Hoàng Thúc Tấn là một trong năm người khởi xướng, tài trợ cho tờ Thanh Nghị (1941- 1945) tiếng nói của giới trí thức Hà Thành.

Hoàng Xuân Sính say mê dạy Toán và nghiên cứu Toán tại Đại học Sư phạm Hà Nội. Những năm bảy mươi của thế kỷ XX, Hoàng Xuân Sính bảo vệ luận án tiến sĩ Toán trước hội đồng khoa học thế giới tại Pháp, trở thành nữ giáo sư- tiến sĩ Toán học đầu tiên của Việt Nam. Không biết bao nhiêu đêm bà mất ngủ, dưới mái nhà tranh leo lét ánh đèn dầu, xa xa tiếng bom Mỹ bắn phá miền Bắc, để nghiên cứu công trình tiến sĩ Toán. Hoàng Xuân Sính- nhà giáo dục, nhà Toán học nữ “Học không biết mỏi, dạy người không biết chán” (Khổng Tử).

Cả cuộc đời hiến dâng cho Toán học, bà ước mơ: “Tôi muốn góp phần đào tạo một lớp nhà Toán học trẻ ở đất nước tôi. Chúng tôi muốn xây dựng một hệ thống Toán học ở trình độ cao, hoàn chỉnh ngay ở trong nước” (Tinh hoa Hà Nội- NXB Văn hóa Thông Tin- 2006- trang 159). Nay tuổi bảy mươi, thông thái và nhanh nhẹn, Hoàng Xuân Sính miệt mài ngày đêm cùng Toán học. Bà tán đồng nhận xét của Thomas. Friedman trong cuốn Thế giới phẳng của ông: “Giáo dục mang lại sự phồn vinh giàu có cho một quốc gia, nếu sản sinh ra nhiều kỹ sư, nhà khoa học và toán học”. Đại học Thăng Long là nơi bà truyền tình yêu Toán học đến giới trẻ. Trên một tảng đá lớn hình ngọn lửa, đặt trong khuôn viên Đại học Thăng Long mới xây hiện đại, tràn ánh sáng, có dòng chữ khiêm tốn và cảm động: “20 năm vượt muôn vàn khó khăn, gian khổ, chúng tôi, một số nhà Toán học thủa ban đầu, cùng cộng đồng nhà trường và một đội ngũ kỹ sư đã xây dựng nên ngôi trường mang tên Đại học Thăng Long. Cầu mong nơi đây sẽ sản sinh ra những nhân tài cho sự phồn vinh, hạnh phúc của đất nước”.

Khánh thành ngôi trường Đại học Thăng Long nơi cánh đồng Đại Kim thênh thang gió. Ngài Anfred Mahavy nguyên hiệu trưởng Học viện Quản lý Paris (ISG) thủa ban đầu ấy, đã bay sang Hà Nội, xúc động nói chuyện với thầy, trò Thăng Long: “Tôi xem phóng sự về Hoàng Xuân Sính đam mê lập trường Đại học dân lập Thăng Long trên kênh 6 truyền hình Pháp. Nhờ phóng sự này tôi đến Việt Nam. Tháng 3-1990, qua Đại sứ quán Pháp, tôi gặp, cô Sính nói: “Ông không nên gặp tôi làm gì. Người nước ngoài đến với tôi nhiều. Họ đã nói rất nhiều và không làm gì cả”. Tôi muốn chứng minh rằng tôi đã làm. Tôi giúp cô Sính lập Khoa Quản lý, cấp học bổng… Chúng tôi giữ liên lạc trong tình bạn mãi mãi. Hai mươi năm thật ấn tượng. Tôi ngưỡng mộ sự nỗ lực, đóng góp của cô Sính và của đội ngũ giáo sư, giảng viên, sinh viên Thăng Long. Đó là một sự nghiệp thật vĩ đại”.

Hoàng Xuân Sính không muốn ai nhắc tên của bà cùng với Đại học Thăng Long. Bà muốn tri ân tất cả những ai đã tham gia vào chặng đường 20 năm của Đại học Thăng Long dù ít hay nhiều. Song sự nghiệp nào cũng phải có người khởi xướng và giữ lửa, truyền ánh sáng.

Thăng Long- Hà Nội nghìn tuổi, có Đại học tư thục Thăng Long- không vì chia lợi nhuận, là mơ ước của Phan Bội Châu và các sĩ phu đầu thế kỷ XX. Phan Chu Trinh- Phan Bội Châu đã sang Nhật Bản học Khánh Ứng Nghĩa Thục- đại học tư thục đầu tiên, do học giả uyên bác thời Minh Trị là Fukuzawa Ykichi (1835-1901) lập 1868. “Nghĩa thục” là “public school” của người Anh, mang ý nghĩa tự cường, độc lập, sáng tạo, óc tháo vát, lòng tự nguyện đóng góp vào các việc công ích, góp phần làm cho sự nghiệp Duy Tân, học tập phương Tây của Nhật Bản thành công, rạng danh nước Nhật. Đầu 1905, các cụ mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội, được chín tháng, bị thực dân Pháp đóng cửa. Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, Đại học Thăng Long chắp cánh ước mơ của Thăng Long- Hà Nội. Mọi hy vọng hãy đến với tất cả những ai học tập, giảng dạy, nghiên cứu tại đây.


Báo Người Hà Nội 18.12.2008

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2008

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch- Một người hiền vĩ đại

Phan Hoàng
http://vietimes.com.vn/ Thứ tư, 12/11/2008

Sáng ngày 7.11.2008, tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch ở TP.HCM đã diễn ra lễ kỷ niệm 40 năm ngày mất của bác sĩ anh hùng Phạm Ngọc Thạch trong niềm xúc động của nhiều đồng nghiệp và các thế hệ học trò gần gũi với ông. Nhà trí thức lớn đã ngã xuống như một vị tướng trên chiến trường vào một chiều mùa đông ở rừng biên giới Tây Nam trong niềm tiếc thương của nhân dân cả nước lẫn bạn bè quốc tế. Ngay thời điểm ấy, trên tờ tạp chí của Hội Y học Pháp - Việt, Giáo sư thạc sĩ André Roussel đã phải thốt lên rằng bác sĩ Phạm Ngọc Thạch “do tập trung được những đức tính hiếm có và quý báu, mà khi nói đến ông người ta dùng một câu rất hiếm: Đó là một người hiền vĩ đại”.


Trí thức với vận mệnh tổ quốc



Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch

Lịch sử đã ghi nhận rằng, từ sau Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940 thất bại cho đến trước ngày Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945, “trong đám lửa tàn lại nhen lên những hòn than hồng” mà chủ yếu là hoạt động yêu nước của tầng lớp học sinh, sinh viên, trí thức. Đó là nhóm ca nhạc Hoàng Mai Lưu với tiếng nhạc lời ca đầy hùng khí, là Đoàn Hùng ở Trường trung học Pétrus Ký, là bước tiến rầm rập của sinh viên từ Hà Nội về Nam trên những chiếc xe đạp để tổ chức những đêm dạ hội với các vở kịch Nợ Mê Linh, Hội nghị Diên Hồng, Hưng Đạo phá Nguyên, Đêm Lam Sơn… rồi tham gia làm báo Thanh niên của Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, dùng ngòi bút để tranh đấu. Trên cơ sở đó, phong trào yêu nước Thanh niên Tiền phong đã ra đời.



Trong Cách mạng tháng Tám, tầng lớp trí thức là lực lượng nhập cuộc rất sôi nổi tích cực. Quân Pháp tái chiếm Nam Bộ. Phần lớn trí thức Sài Gòn lục tỉnh theo tiếng gọi non sông, từ bỏ cuộc sống phố hội, dấn thân vào chốn bưng biền trong kháng chiến chín năm. Những trí thức còn kẹt lại trong thành phố, thì đa số bất hợp tác với quân xâm lược. Trong bài nói chuyện nhân dịp mừng sinh nhật 85 tuổi của bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, Giáo sư Trần Văn Giàu tâm sự rằng “trong Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chín năm, tầng lớp trí thức Sài Gòn và Nam Bộ đã tham gia rất đông đảo và bền bỉ với ý thức cao sâu, với tinh thần mãnh liệt. Người gãy gánh giữa đường rất ít. Anh chị em không phải nhất thời bị lôi cuốn theo phong trào; anh chị em là bộ phận cấu thành phong trào, trong một số trường hợp, anh chị em là chủ xướng”.


Từ trong máu lửa đấu tranh vì danh dự dân tộc đã nổi lên nhiều hình ảnh trí thức tiêu biểu của Sài Gòn và Nam Bộ, xin được kể ra một vài cái tên như: Lưu Văn Lang, Nguyễn Xuân Bái, Phan Văn Chương, Thái Văn Lung, Phạm Ngọc Thạch, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Ngọc Thuần, Lê Đình Chi, Phạm Văn Bạch, Nguyễn Văn Hưởng, Ca Văn Thỉnh, Huỳnh Tấn Phát… Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định: “Có thể nói chắc rằng đi với Cách mạng và Kháng chiến, người trí thức gần như tuyệt nhiên không vì quyền lợi thiết thực nào. Nếu nói quyền lợi thiết thực, thì đi kháng chiến họ chỉ mất, không được gì. Thế thì “duy tâm” à? Không! Ấy là “duy” danh dự dân tộc, “duy” lý tưởng độc lập tự do. Xưa nay, dám đi tù, chịu chết vì tấm áo, bát cơm, đúng là nhiều người; mà xưa nay ở đất nước Việt Nam này, dám chết vì giải phóng dân tộc, vì độc lập tự chủ, thì càng nhiều người hơn, không phải là hàng ngàn hàng vạn mà hàng triệu. Trí thức nhạy cảm ở danh dự. Cách mạng và Kháng chiến kích thích đến tột độ cái ý thức danh dự dân tộc của trí thức, được cái này thì dù phải bỏ của cải, phải xa gia đình cũng ưng”.


Thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong

Tháng 3.1945, trước sự lớn mạnh của phong trào học sinh, sinh viên và trí thức yêu nước, một nhóm các nhà tri thức tiên phong đã đứng ra thành lập phong trào Thanh niên Tiền phong tại Sài Gòn, sau đó phát triển nhanh ra khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được cử giữ chức Bí thư Đảng đoàn kiêm Chủ tịch Hội đồng Quản trị phong trào Thanh niên Tiền phong ở Sài Gòn và Nam Kỳ. Chỉ trong vòng ba tháng đầu, số đoàn viên Thanh niên Tiền phong lên tới 1.200.000 người, riêng Sài Gòn chiếm 200.000 người..


Bên cạnh Phạm Ngọc Thạch, tham gia lãnh đạo Thanh niên Tiền phong còn có các nhà trí thức: Thái Văn Lung, Ngô Tấn Nhơn, Nguyễn Văn Thủ, Trần Bửu Kiếm, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng,… Luật sư Thái Văn Lung quê ở Thủ Đức, vốn là con của một hào phú, tốt nghiệp cử nhân luật và khoa học chính trị ở Paris. Bác sĩ Nguyễn Văn Thủ sinh ở Vĩnh Long, học trung học và đại học bên Pháp, tốt nghiệp bác sĩ nha khoa năm 1940, hai năm sau về nước. Trần Bửu Kiếm quê ở Ô Môn, Cần Thơ học trường trung học Pétrus Ký- Sài Gòn và đại học luật ở Hà Nội. Bộ ba nhóm Hoàng Mai Lưu (Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước) là những sinh viên yêu nước nổi tiếng, hưởng ứng phong trào “Xếp bút nghiên” đã rời Hà Nội về Nam bằng xe đạp, sáng tác nhạc, kịch, thơ, viết báo tham gia tranh đấu… Tất cả họ đã từ bỏ con đường danh vọng trước mắt để thực hiện nghĩa vụ của một công dân trước vận mệnh đất nước, tương lai dân tộc.


Ngày 18.8.1945, tại Vườn Ông Thượng (nay là Công viên Văn hóa TP.HCM) hơn 50.000 đoàn viên Thanh niên Tiền phong làm lễ tuyên thệ “Trung thành với Tổ quốc, chống địch đến cùng”. Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã đứng trên bục cao chỉ huy biển người đồng ca bài Quốc dân hành khúc, tức Thanh niên hành khúc do chính ông sáng tác và được chỉnh sửa lời cho phù hợp với tình hình mới. Hưởng ứng lời kêu gọi của các nhà lãnh đạo cách mạng Trần Văn Giàu, Huỳnh Tấn Phát…, ngày 22.8.1945 Ban Chấp hành Thanh niên Tiền phong họp ra quyết nghị gia nhập Mặt trận Việt Minh chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Đêm 24 rạng ngày 25.8.1945, hàng chục vạn đồng bào Sài Gòn- Chợ Lớn, mà Thanh niên Tiền phong là một trong những thành phần chủ lực, đã kéo về trung tâm thành phố đấu tranh giành chính quyền.



Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch bên cây đa Tân trào


Một khu rừng nguyên sinh

Phạm Ngọc Thạch sinh 7.5.1909 tại Phan Thiết, thuộc hàng “danh gia vọng tộc”, ông nội là quan Án sát Phạm Ngọc Quát, còn mẹ là cháu nội Tuy Lý Vương, lấy vợ người Pháp. Ông học Đại học Y Hà Nội đến năm thứ 4 thì sang Paris học tiếp. Năm 1934, ông tốt nghiệp và về nước mở phòng mạch tư chữa bệnh lao tại thành phố Sài Gòn. Năm 1936, ông trở thành hội viên duy nhất ở Đông Dương của Hội Nghiên cứu bệnh lao Pháp. Vừa chữa bệnh cho nhân dân, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch vừa tham gia phong trào yêu nước thời kỳ Mặt trận Dân chủ. Ngày 2.9.1945, ông là thủ lĩnh của Thanh niên Tiền phong, Ủy viên Lâm ủy hành chính, đứng ra tuyên bố khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công trước hàng triệu đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn mít tinh mừng nước nhà độc lập. Sau đó, ông trở thành Bộ trưởng Bộ Y tế đầu tiên của Chính phủ lâm thời và là thành viên của đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán với Pháp tại Hội nghị trù bị ở Đà Lạt vào tháng 4.1946. Trong kháng chiến chín năm, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch trở về hoạt động ở Nam Bộ, giữ trọng trách Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Cuối năm 1953, nhận chỉ thị của Hồ Chủ tịch, ông ra chiến khu Việt Bắc. Sau Hiệp định Genève năm 1954, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế kiêm Viện trưởng đầu tiên của Viện Chống lao trung ương và là Ủy viên Ban Kỹ thuật Hội Bài trừ lao quốc tế. Ông đã dược chính phủ tặng danh hiệu Anh hùng Lao động do những đóng góp to lớn trong lĩnh vực y tế.


Nhà văn Nguyễn Hải Trừng đã viết: “Anh Phạm Ngọc Thạch như một dãy núi lớn, một khu rừng nguyên sinh có cây ngàn tuổi, có hoa bốn mùa phong phú vô cùng về hình thể, màu sắc và hương thơm tỏa ngát khỏi biên giới một quốc gia”. Với tư cách là thầy thuốc, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch hết lòng vì bệnh nhân. Trước Cách mạng tháng Tám, phòng mạch của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch nằm trên đường Arras (nay là Cống Quỳnh thuộc quận 1), cùng đường phố với phòng mạch của bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng thời đó. Với một tinh thần chung vì người bệnh, nhất là đối với bệnh nhân nghèo, phòng mạch của cả hai bác sĩ được sự tín nhiệm lớn của đông đảo đồng bào.


Trong dòng hồi ức của mình vào sáng ngày 7.11.2008, dược sĩ anh hùng Nguyễn Duy Cương- nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế cũng đã nói: “Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là một thầy thuốc nhân hậu, rất bình dân. Nửa đêm có người bệnh gõ cửa đánh thức, ông vẫn lái xe đến tận các khu nhà nghèo để khám và chữa bệnh cho người lao động”.


Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch cũng là người hết sức tận tụy với đồng nghiệp. Năm 1953, trên đường ra Việt Bắc, ông ghé thăm hai bác sĩ Tôn Thất Tùng và Hồ Đắc Di. Gặp lúc bác sĩ Hồ Đắc Di đang bệnh nặng, dù công việc rất gấp, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch vẫn xin phép cấp trên nán lại một tuần để chữa bệnh và chăm sóc đồng nghiệp. Giáo sư Hồ Đắc Di nhớ lại với một sự xúc động sâu xa: “Tôi khâm phục tinh thần tận tụy phục vụ người bệnh của anh. Ngày đêm anh nằm cạnh giường tôi, nâng giấc tôi như một người mẹ hiền. Tôi mang ơn anh đã cứu sống tôi!”. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đọng lại trong ký ức nhiều bệnh nhân tại Viện Chống lao trung ương với hình ảnh đẹp đẽ thân thuộc: người thầy thuốc trong chiếc áo chòang trắng cùng chiếc ống nghe bên cổ, ân cần thăm hỏi từng giường bệnh. Không ít lần ông đã tự tiếp máu mình cho bệnh nhân khi gặp những ca cấp cứu nguy kịch. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là hiện thân sống động nhất của y đức “Lương y như từ mẫu”.



Một người hiền vĩ đại

Phạm Ngọc Thạch là một nhà bác học lớn, có nhiều công trình nghiên cứu y học được đánh giá cao trong và ngoài nước. Với hơn 80 bài nghiên cứu về bệnh lao được đăng tải trên nhiều tạp chí khoa học có uy tín tại nhiều quốc gia, cùng với những thực nghiệm thành công của mình, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được xem như một trong những chuyên gia lớn về bệnh lao của thế giới. Từ năm 1957, ông đã cùng đồng nghiệp nghiên cứu và phát minh nhiều phương pháp phòng chống và điều trị bệnh lao. Tư năm 1962, việc tiêm phòng lao ở nước ta được tiến hành rộng rãi và thu được kết quả to lớn. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch cũng là người đầu tiên đề ra phương pháp dùng kích sinh chất Filatov điều trị bệnh lao và kết hợp Đông - Tây y để tiêm thuốc vào vùng huyệt chữa lao và bệnh phổi. Sau đó, nhờ chủng vi trùng Suptilite mang từ miền Nam ra Bắc, sau 10 năm trời nghiền ngẫm, ông đã thành công trong việc dùng Suptilite điều trị bệnh lao, bệnh phổi cũng như một vài bệnh nhiễm trùng khác. Những năm đầu thập niên 1990, khi nhìn lại công trạng người đi trước, Giáo sư bác sĩ Hoàng Minh khẳng định: “Đối với ngành lao và bệnh phổi, những nghiên cứu của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch trong việc áp dụng miễn dịch học chữa ung thư, điều trị lao, giải quyết các bệnh phổi mạn tính đã được các đồng nghiệp, học trò của ông thừa kế một cách sáng tạo…”.


Là một bác học uyên thâm, nhưng bác sĩ Phạm Ngọc Thạch rất chịu khó học hỏi từ đồng nghiệp cho tới ông lang, bà mế những kinh nghiệm chữa trị phù hợp với hoàn cảnh nước ta. Ông cũng đọc kỹ từng bài báo nhỏ của đồng nghiệp, học trò về một vấn đề mới cho tới những công trình lớn của Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh, Claude Bernard…


Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch còn là lãnh đạo có uy tín. Với cương vị Bộ trưởng Bộ Y tế đầu tiên của nước ta, ông đã có công lớn trong việc tổ chức xây dựng mạng lưới y tế nhân dân từ địa phương tới trung ương trong kháng chiến. Giữa khói lửa đạn bom, hình ảnh Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch vai mang ba lô, đầu trần, chân đất có mặt trên mọi chiến trường đã gây xúc động mạnh. Ông quên ăn, quên ngủ để cứu chữa cho thương bệnh binh và đồng bào.



Con đường mang tên bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ở TP.Hồ Chí Minh


Quê hương Nam Bộ luôn là nỗi nhớ, niềm thôi thúc mạnh mẽ trong trái tim của ông. Và cũng chính quê Nam Bộ cũng chứng kiến sự hy sinh anh dũng của người con thân yêu ngã xuống trên chiến trường sau một cơn sốt rét ác tính giữa lúc đang chỉ đạo nghiên cứu căn bệnh này và những vấn đề y tế cấp bách. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch vĩnh viễn ra đi vào một chiều mùa đông 7.11.1968, để lại trong lòng mọi người sự tiếc thương vô hạn. Đột ngột nghe tin buồn, Hồ Chủ tịch đã ngồi lặng đi. Nhiều đồng nghiệp, cán bộ ngành y tế đã không cầm được nước mắt...


Chỉ trong vòng 72 giờ sau, một người bạn trí thức Nam Bộ của ông là nhà điêu khắc Diệp Minh Châu đã hoàn tất bức tượng bác sĩ Phạm Ngọc Thạch to gấp mười lần người thật trong một niềm rung cảm mãnh liệt, hiện đang đặt tại Viện Lao và bệnh phổi. Nghệ sĩ Diệp Minh Châu thổ lộ: “Tôi say mê tài năng và có duyên làm bạn với nhiều tài năng. Không chỉ với nghệ sĩ mà cả giới khoa học. Cuộc đời giản dị, cao đẹp và tinh thần xả thân của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã chinh phục mạnh mẽ trái tim tôi, giúp tôi tạo nên tác phẩm ưng ý về ông”. Đối với bạn bè thế giới thì bác sĩ Phạm Ngọc Thạch “do tập trung được những đức tính hiếm có và quý báu, mà khi nói đến ông người ta dùng một câu rất hiếm: Đó là một người hiền vĩ đại (Giáo sư thạc sĩ André Roussel viết trên tạp chí của Hội Y học Pháp - Việt, 3.1969). Và theo Madeleine Riffeau trên báo Nhân đạo số ra 13.12. 1968, nhà bác học lớn Phạm Ngọc Thạch đã vĩnh viễn ra đi nhưng hình ảnh ông vẫn còn mãi “trong làn nước trong xanh của hàng vạn giếng khơi mà ông đã cho đào, trong các tiếng khóc chào đời của các bé sơ sinh, trong những buồng phổi khỏe mạnh của nhân dân…”.


Tại mảnh đất Sài Gòn đã dựng nên tên tuổi và sự nghiệp bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, ngay sau ngày đất nước thống nhất tên ông đã được trân trọng chọn đặt cho một con đường lớn ở trung tâm thành phố và một bệnh viện chống lao. Ngày 10.10.2008 vừa qua, một ngôi trường Đại học y khoa mang tên Phạm Ngọc Thạch cũng đã được khai giảng niên khoá đầu tiên. Hình ảnh nhà trí thức lớn mãi mãi hiện diện trong lòng dân tộc.


Phan Hoàng

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2008

Đào Duy Từ còn mãi với non sông



Đào Duy Từ là nhà chính trị quân sự lỗi lạc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, bậc công thần số một của triều Nguyễn, Sự nghiệp của ông là đặc biệt to lớn đối với dân tộc và thời đại mà ông đã sống. Ông bắt đầu thi thố tài năng từ năm 53 tuổi đến năm 62 tuổi thì mất. Chỉ trong 9 năm ngắn ngủi (1625-1634), Đào Duy Từ đã kịp làm nên kỳ tích phi thường: Giữ vững cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong chống cự thành công với họ Trịnh ở phía Bắc; Mở đất phương Nam làm cho Nam Việt thời ấy trở nên phồn thịnh. Đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn, sửa sang chính trị, quan chế, thi cử, võ bị, thuế khóa, nội trị, ngoại giao.

Sau khi ông mất (1634) triều Nguyễn còn truyền được 8 đời (131 năm), cho đến năm 1735, khi Vũ Vương mất, thế tử chết, Trương Phúc Loan chuyên quyền, lòng người li tán, nhà Tây Sơn nổi lên chiếm đất Quy Nhơn, họ Trịnh lấy đất Phú Xuân, thì cơ nghiệp nhà Nguyễn mới bị xiêu đổ.

Đào Duy Từ mang tâm nguyện và chí hướng lớn lao như vua Trần Thái Tông “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Di sản của ông không chỉ là trước tác mà là triều đại. Ông là nhà thực tiễn sáng suốt có tầm nhìn sâu rộng lạ thường. Ngay trong trước tác của ông cũng rất trọng gắn lý luận với thực tiễn. Binh thư “Hổ trướng khu cơ” gắn với những danh tướng cầm quân lỗi lạc một thời Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến. Vũ khúc, tuồng cổ Sơn Hậu gắn với di sản văn hóa Huế lưu dấu mãi cho đến tận ngày nay. Việc sửa sang chính trị, quan chế, thi cử, võ bị, thuế khóa, nội trị, ngoại giao gắn với hệ thống chính trị tiến bộ hợp lòng dân. Ông thật xứng danh là bậc kỳ tài muôn thuở với những di sản còn mãi với non sông.

Đào Duy Từ với Lũy Thầy, Quảng Bình

Theo Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Bình http://www.quangbinh.gov.vn/ “Năm Canh Ngọ 1630, ông chủ xướng việc thiết kế và chỉ đạo xây dựng hai công trình phòng thủ quan trọng là Lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình (1630) và Lũy Thầy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu (Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình). Đây là chiến lũy quan trọng, giúp chúa Nguyễn có thể phòng thủ hiệu quả trước nguy cơ tấn công của quân Trịnh.” Sách Việt Nam sử lược có viết chi tiết về việc Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến đã giúp chúa Nguyễn bày mưu định kế, luyện tập quân lính xây đồn đắp lũy để chống với quân họ Trịnh. Người ta thường gọi lũy ấy là lũy Thầy, nghĩa là lũy của Đào Duy Từ đắp ra.

Theo tài liệu của Trương Quang Nam (báo Thanh Niên) được đặng lại bởi trang lịch sử Việt Nam http://lichsuvietnam.info/. Năm 1992, Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao đã ra quyết định công nhận di tích lịch sử đối với hệ thống Lũy Thầy tại thị xã Đồng Hới và huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình với nhiều giá trị to lớn. Tại hồ sơ lưu ở Ban Quản lý di tích - danh thắng tỉnh Quảng Bình, lũy Thầy là một hệ thống thành lũy bằng đất, đá được hình thành trong thời gian 3 năm (1630-1634) với tổng chiều dài gần 34 km gồm lũy Trường Dục, lũy Trấn Ninh (lũy Đầu Mâu) và lũy Trường Sa. Lũy Thầy là một công trình kiến trúc quân sự có giá trị trong việc nghiên cứu lịch sử xây dựng thành lũy ở Việt Nam, thể hiện sự kết hợp một cách khoa học giữa thành lũy, sông ngòi, hầm hào liên hoàn, hỗ trợ cho nhau. Ngoài công dụng quân sự, lũy còn có tác dụng về nông nghiệp, thủy nông, thủy lợi như ngăn gió bão, gió mùa, hạn chế cát bay. Và nhiều nét sinh hoạt văn hóa khác gắn liền...

Trong cả hệ thống, lũy Đầu Mâu thuộc làng Lệ Kỳ, xã Vĩnh Ninh, huyện Quảng Ninh được cho là còn khá nguyên vẹn. Năm 1631, sau khi xây xong lũy Trường Dục, chúa Nguyễn chưa yên tâm bèn sai Đào Duy Từ và Nguyễn Hữu Dật đi Quảng Bình xem xét hình thế núi sông vùng Đông Hải để xây thêm thành lũy phòng ngự. Khảo sát xong, Đào Duy Từ tâu: Thần xem từ cửa Nhật Lệ đến núi Đầu Mâu, phía ngoài có nước khe, bùa lũy sâu rộng Nguyễn Phúc Nguyên đồng ý cho xây ngay. Bia Định Bắc Trường Thành mô tả lũy Đầu Mâu như sau: "Lũy Đầu Mâu cao 1 tượng 5 thước (tương đương 6m), phía ngoài đóng cọc gỗ lim, phía sau cọc tre, đổ đất lên 5 tầng cấp để voi ngựa có thể bước lên và di chuyển dễ dàng trên mặt lũy. Cứ cách 3-5 tượng thì xây 1 pháo đài để đặt 1 súng thần công, cứ cách 1 tượng thì đặt 1 súng phóng đá, sỏi - tất cả tạo thành một công trình phòng thủ hiểm yếu và kiên cố nhất". Lũy có chiều dài 12 km.”

Đền thờ Đào Duy Từ ở làng Hoa Trai, Tỉnh Gia, Thanh Hóa

Theo trang thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa http://www.thanhhoa.gov.vn Đào Duy Từ là người làng Hoa Trai, Ngọc Sơn, Tỉnh Gia, Thanh Hóa. Nơi đây có đền thờ của ông (xem ảnh trên). Huyện Tỉnh Gia hiện là điểm đến mới của du khách “Sự kết hợp hài hòa giữa các cảnh quan biển, đảo, đồng bằng, trung du và miền núi đã tạo cho Tĩnh Gia thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch. Ðến với Tĩnh Gia, du khách không thể không ghé thăm những địa danh nổi tiếng như: Hòn Bảng, Hòn Biện Sơn, Hòn Mê, núi Ngọc Sơn, núi Am, núi Thề Nguyền, hồ Yên Mỹ, động Trúc Lâm, nhà thờ Bùi Thị Xuân, di tích kiến trúc núi đá nghệ thuật thờ Quận công Lê Ðình Châu, nhà thờ xứ Ba Làng xây dựng năm 1893, đền thờ Lương Chí thờ Ðào Duy Từ,... Tất cả tạo thành quần thể du lịch vô cùng độc đáo, là sự tổng hoà giữa những cảnh đẹp do thiên nhiên ban tặng cùng các truyền thuyết, dấu tích lịch sử.”

Trang Du lịch Sẩm Sơn http://www.samson.vn/ giới thiệu cụm di tích Lạch Bạng có: “Chùa Đót Tiên, đền thờ Quang Trung, nhà thờ Ba Làng là một trong số nhà thờ được xây dựng sớm nhất ở Việt Nam. Trên đường về thành phố Thanh Hóa, du khách dừng lại làng Hoa Trai ( Nguyên Bình – Tĩnh Gia ) để dâng hương tại đền thờ Đào Duy Từ - một danh nhân văn hóa ở quê Thanh..”

Đền thờ Đào Duy Từ tại làng Tùng Châu, Hoài Nhơn,

Trang Hoài Nhơn Online, http://hoainhon.vn/diendan/showthread.php?t=684 , theo Cao Văn Phụng: “ Sau khi Đào Duy Từ qua đời (1634) chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho đưa thi hài ông về mai táng và lập đền thờ tại làng Tùng Châu thuộc xã Hoài Thanh (Hoài Nhơn). Di tích lăng mộ Đào Duy Từ nay thuộc địa phận thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn. Năm Gia Long 4 (1805) nhà Nguyễn xét công trạng khai quốc công thần, Đào Duy Từ được xếp hàng đầu, được cấp 15 mẫu tự điền và 6 người trông coi phần mộ. Đến năm Minh Mệnh 17 (1836), triều đình lại sai dân sở tại sửa chữa lăng mộ cho ông. Trải qua thời gian và chiến tranh, lăng mộ ông bị hư hại nhiều. Lần sửa sang gần đây nhất được tiến hành năm 1999.

Di tích Nhà thờ Đào Duy Từ hiện tại thuộc thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn. Nhà thờ nằm trong khuôn viên một thửa đất hình chữ T có diện tích 1.616m2 , được xây dựng vào năm Tự Đức 12 (1859), đã trãi qua nhiều lần trùng tu. Nhà thờ có tam quan cao khoảng 6m, hai mái lợp ngói âm dương, trên có bốn chữ lớn “Quốc công từ môn” (cổng đến thờ Quốc công) ghép bằng mảnh sứ, hai bên đắp phù điêu hình hai con dơi cánh điệu, đường nét khá sắc sảo, bốn trụ góc có hình rồng uốn lượn. Qua Tam Quan có sân nhỏ hình chữ nhật, kích thước 6,9m x 7,8m. tiếp đến là bình phong đắp hình long mã lưng có hà đồ nỗi trên mặt nước, mặt sau đề bốn chữ “Bách thế bất di” (Trăm đời không thay đổi). Ở hai bên là đôi câu đối nhắc đến lai lịch Đào Duy Từ: “Ngọc sơn chung tú Bắc/ Bồng lãnh hiển danh Nam”. Cách đều bình phong 2,6m về hai bên có hai cột trụ cao 4m, trên đỉnh đắp tượng hạc đứng chầu đối xứng, phía sau là sân lớn hình chữ nhật với kích thước 15,4m x 14m. qua sân lớn đến nhà thờ được thiết kế kiểu nhà mái lá, một kiểu kiến trúc truyền thống ở Bình Định. Khám thờ bên trong có bài vị của Đào Tá Hán , Nguyễn Thị Minh (thân phụ và thân mẫu của Đào Duy Từ), Đào Duy Từ và vợ. Trên bài vị Đào Duy Từ có dòng chữ “ô Thủy tổ khảo nội tán lộc khê hầu Đào Công, tặng khai quốc công thần, đặc tiến Vinh lộc đại phu, Đông các đại học sỹ, Thái sư, nhưng thủy Trung Lương, phong Hoàng Quốc Công thần chủ” Bài vị của vợ Đào Duy Từ viết “ôThủy tổ tỉ nội tán Lộc khê hầu Hoàng Quốc Công phu nhân, Trinh thục cao thị thần chủ”. Trong nhà thờ còn có đôi câu đối nhưng nay đã sứt mòn, mờ không đọc được.

Di tích nhà thờ Đào Duy Từ tại thôn Cự Tài thuộc xã Hoài Phú, huyện Hoài Nhơn. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí và Đồng Khánh Dư Địa Chí đều chép đền thờ Hoàng Quốc Công Đào Duy Từ ở thôn Cự Tài, huyện Bồng Sơn (nay là Hoài Nhơn). Trong chiến tranh nhà thờ này đã bị sụp đổ. Năm 1978 dòng họ Đào xin kinh phí của tỉnh Nghĩa Bình để xây dựng lại đền thờ trên nền cũ hiện chỉ còn lại hai trụ cổng và tấm đại tự cũng đề “Quốc Công từ môn” (giống như nhà thờ ở thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây) là dấu tích kiến trúc năm Tự Đức thứ 32 (1880) và lần trùng tu năm Khải Định thứ 1 (1861). Trong đền thờ khám thờ là bài vị Đào Duy Từ cũng ghi giống như bài vị bên nhà thờ thôn Ngọc Sơn. Ngoài ra, tại thôn Ngọc Sơn còn có lăng Đào Tá Hán. Truyền rằng khi đã làm quan ở Thuận Hóa, Đào Duy Từ cho đắp mộ phụ thân rồi tung tin rằng đã đưa hài cốt cha mẹ vào đây để phòng việc trả thù của họ Trịnh ở Đàng Ngoài. Lăng mộ hiện nằm trên một quả đồi rộng. Cũng tại Ngọc Sơn hiên có một ngôi chùa nhỏ, tương truyền là nơi đi tu của bà vợ cả họ Cao.

Những di tích kể trên, theo đơn vị hành chính hiện nay, nằm ở các thôn, xã khác nhau (lăng mộ Đào Duy Từ tại thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, nhà thờ và lăng mộ Đào Tá Hán tại thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây và nhà thờ ở thôn Cự Tài, xã Hoài Phú ) nhưng tất cả vốn đều thuộc vùng đất của trại Tùng Châu xưa. Đây là những xã thôn mà hiện nay con cháu Đào Duy Từ còn rất đông đảo, đặc biệt là ở thôn Cự Tài.

Hàng năm vào ngày 17 tháng 10 (âm lịch) là ngày giỗ Đào Duy Từ, con cháu họ Đào tổ chức cúng tế rất long trọng. Theo quy ước, cứ vào dịp này con cháu dòng tộc đều nghỉ việc đồng áng trong ba ngày. Sau khi làm lễ thắp hương tại lăng mộ Đào Duy Từ (thôn Phụng Du) con cháu về họp mặt và dâng hương tại đền thờ cha mẹ và vợ chồng Đào Duy Từ ở thôn Ngọc Sơn rồi sau đó mới trở về tế lễ chính thức tại đền thờ Đào Duy Từ ở thôn Cự Tài. Ngoài ngày giỗ chính (17 tháng 10), hàng năm tại các di tích trên còn có 5 ngày lễ phụ vào dịp Đông chí, Chạp mả, Thanh minh, Trung thu và Tết Nguyên đán. Ngày giỗ Đào Duy Từ cũng là ngày con cháu phối hợp cúng tế thân phụ và thân mẫu cùng vợ của ông. Duy bà vợ cả còn có ngày riêng là 12 tháng 2 âm lịch tại chùa tu của bà ở thôn Tài lương. Giỗ bà hàng năm( gọi là tiểu chẩn) chỉ sửa cơm chay, cứ mười năm (gọi là trung chẩn) thì lễ vật có thêm đôi chim sống, một đôi gà sống cúng xong thả chim gà ra rồi con cháu thi nhau đuổi bắt, cứ 30 năm (đại chẩn) mới sửa cỗ mặn.

Có đến tận nơi mảnh đất Tùng Châu xưa mới thấy hết dấu ấn và ảnh hưởng lớn lao của Đào Duy Từ đối với vùng đất này. Không chỉ có con cháu họ Đào nơi đây tự hào về vị tổ tiên của mình mà tất cả mọi người dân nơi đây đều tự hào về ông. Cuộc đời và sự nghiệp Đào Duy Từ đã trở thành niềm tự hào chung của dân Hoài Nhơn, của nhân dân Bình Định. Cuộc hành hương đưa ta trở về mảnh đất nơi xưa Đào Duy Từ thác làm kẻ chăn trâu cho phú ông không mấy khó khăn. Từ thị trấn Bồng Sơn ruổi theo Quốc lộ 1A khoảng 7 km tới cột cây số 1138 rồi rẽ hướng tây là sẽ đến các địa chỉ cần tìm. Cỏ trên mộ ông luôn ấm hơi người, của con cháu, của bà con nơi đây, của khách thập phương. Bởi cuộc đời đầy những tình tiết ly kỳ của ông, bởi tấm lòng của ông với vùng đất quê hương thứ hai này, và bởi sự nghiệp lẫy lừng của ông với chúa Nguyễn, với nhân dân Đàng Trong vẫn sẽ còn sống mãi với thời gian.”

Đền thờ Đào Duy Từ ở làng Lạc Giao, Buôn Ma Thuột

Theo Báo Bình Định http://www.baobinhdinh.com.vn/ Trần Xuân Toàn đã giới thiệu đền thờ Đào Duy Từ ở làng Lại Giao thành phố Buôn Mê Thuột : “Đình Lạc Giao phường Thống Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, được lập năm 1929, là ngôi đình làng đầu tiên của những người Việt (Kinh) từ đồng bằng lên đây lập nghiệp, thờ vị thành hoàng làng là Đào Duy Từ.

Ngôi đình ban đầu làm bằng tranh tre, năm 1932, ngôi đình được xây dựng lại bằng gạch lợp ngói theo hình chữ Môn, gồm có nhà thờ Thần Hoàng và những người có công với nước, hai nhà tả hữu hai bên dùng làm nơi hội họp mỗi khi tế lễ, phía trước có cổng tam quan đi vào, sau cổng có bức bình phong có chạm khắc hổ phù, sau nữa là một lư hương lớn. Làng Lạc Giao hình thành bắt đầu từ những người bị tù lưu đày xa xứ, rồi những dân phiêu bạt từ các vùng đất miền Trung nghèo khó tìm nơi lập nghiệp sinh sống, rồi những công chức, thầy giáo, binh lính được bổ nhiệm lên vùng đất xa xôi Ban đầu chỉ dăm nóc nhà dọc theo con đường suối Ea Tam, xóm người Việt ấy được gọi là thôn Nam Bang. Họ làm rẫy dọc theo khu rừng già ven suối, bên cạnh một buôn của Ama Thuột. Năm 1924, họ gọi xóm người Việt di cư đến là Lạc Giao với ý nghĩa: Lạc là con Lạc cháu Hồng, Giao nghĩa là nơi bang giao Kinh – Thượng. Tên gọi Lạc Giao là lời nguyền giao ước an cư lạc nghiệp của đồng bào Kinh- Thượng, cùng chung lưng đấu cật xây dựng vùng đất mới này.

Năm 1925, làng Lạc Giao được mở rộng bao trùm cả một khu vực rộng lớn ở ngay trung tâm Buôn Ma Thuột. Tài liệu của đình Lạc Giao ghi: ông Phan Hộ, người Quảng Nam, vào Ninh Hoà (Khánh Hoà) sinh sống. Thuở ấy, lên cao nguyên Dak Lak chưa có đường, ông Phan Hộ cùng một số trai tráng đi bằng voi, ngựa xuyên rừng vài tháng mới tới vùng M'Drak rồi đến Buôn Ma Thuột trao đổi hàng hoá với người Ê Đê, thấy người dân ở đây giàu lòng mến khách, đất đai màu mỡ lại dễ làm ăn, nên ông vận động nhiều gia đình lên đây sinh sống, khai phá đất hoang để lập làng. Nỗi nhớ thương quê nhà bản quán, anh em khôn nguôi trong lòng những người đi xa quê, làm ăn xứ lạ. Từ đó họ có nhu cầu gặp gỡ, trao đổi công việc làm ăn, nhất là lễ tết có nơi cúng kiếng ông bà tổ tiên, nhắc chuyện quê hương làng xóm. Họ đã góp tiền của công sức dựng nên ngôi đình trên để thoả nỗi ước mong đó. Đình Lạc Giao ra đời ghi dấu bước chân của người Việt trên mảnh đất cao nguyên, là nơi mọi người cầu mong sức khoẻ và làm ăn phát đạt, nơi thờ các vị tiên hiền và người có công với đất nước, nơi sinh hoạt trong những ngày lễ tết của cư dân Việt trên vùng đất mới.

Năm 1932, vua Bảo Đại ra chiếu sắc phong cho thần hoàng của làng là Đào Duy Từ, khẳng định đây là đất của “Hoàng triều cương thổ”. Nhân vật được sắc phong Thần Hoàng là một danh nhân văn hoá, một tài năng lớn trong nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá … đặc biệt ông là người có công mở mang đất nước, xây dựng nên nhiều vùng đất mới. Hằng năm cứ đến ngày 27-10 âm lịch, nhân dân Buôn Ma Thuột lại tổ chức ngày tưởng niệm tại đình ...’’

Hoàng Kim
(Sưu tầm tổng hợp, biên soạn)
http://blog.360.yahoo.com/rss-PkY01PA5dKccD9Dsho_NMlMcLZ4VHCMw

Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2008

Giai thoại Đào Duy Từ



1. Kẻ chăn trâu kỳ dị

Nhà phú hộ Lê Phú ở thôn Tùng Châu, phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định thuê được một đứa ở chăn trâu tên là Đào Duy Từ. Tuy đã đứng tuổi, nhưng Duy Từ tỏ ra rất cần mẫn, siêng năng. Ngày ngày cứ sáng, sớm lùa trâu đi ăn, mãi chập tối mới đánh trâu về, trời nắng cũng như trời mưa, khiến gia chủ rất vừa lòng, chưa hề có tiếng chê trách.

Một hôm, phú hộ họ Lê mời các Nho sĩ hay chữ khắp vùng đến nhà dự hội bình văn. Chập tối, sau khi tiệc tùng xong, mọi người còn trà thuốc, bàn cãi chữ nghĩa văn chương, thì vừa lúc Đào Duy Từ chăn trâu về. Thấy đám đông khách khứa trò chuyện rôm rả, Duy Từ bèn lại gần, đứng ghếch chân lên bậc thềm nhìn, tay vẫn cầm chiếc roi trâu, vai đeo nón lá, lưng quấn khố vải... Chủ nhà ngồi phía trong nhìn thấy cho là vô lễ, giận dữ quát:

- Kẻ chăn trâu kia! Hạng tiểu nhân biết gì mà dám đứng nhìn các quan khách đây là những bậc danh Nho ?

Duy Từ nghe mắng song không tỏ ra sợ hãi, cười ha hả, rồi nói một cách thản nhiên:

- Nho cũng có hạng ''nho quân tử'', hạng ''nho tiểu nhân''. Chăn trâu cũng có kẻ ''chăn trâu anh hùng'', kẻ ''chăn trâu tôi tớ'', cao thấp không giống nhau, hiền ngu không là một ! Còn kẻ tiểu nhân tôi chỉ đứng nhìn, có xâm phạm gì đến cái phú quý, sang trọng của các vị, mà chủ nhân lại mắng đuổi ?

Mấy người khách nghe Duy Từ là đứa chăn trâu, mà nói lí như vậy, liền vặn hỏi:

- Vậy nhà người bảo ai là "nho quân tử", ai là "nho tiểu nhân" hả?

Đào Duy Từ chẳng cần nghĩ ngợi, nói luôn một mạch:

- "Nho quân tử'' thì trên thông thiên văn, dưới thấu địa lí, giữa hiểu việc đời, trong nhà giữ được đạo cha con, tình nghĩa vợ chồng, anh em, bè bạn, ngoài xã hội thì biết lo việc nước, vỗ yên dân, giúp đời, phò nguy cứu hiểm, để lại sự nghiệp muôn đời. Còn ''nho tiểu nhân'' thì chỉ là bọn học vẹt, cầu danh cầu lộc, khoe ít chữ nghĩa, coi thường hào kiệt, may được giữ một chức quan nhất thời, thì chỉ tìm trăm phương ngàn kế để mưu đồ lợi riêng làm sâu mọt hại dân đục nước, thật là đáng sợ !

Đám khách nghe Duy Từ nói thế, đều giật mình kinh ngạc, không ngờ một đứa chăn trâu mà lí lẽ cứng cỏi làm vậy, bèn tò mò hỏi thêm:

- Còn ''kẻ chăn trâu anh hùng'', kẻ ''chăn trâu tôi tớ'' thì nghĩa làm sao, nhà ngươi thử nói nghe luôn thể ? Duy Từ mỉm cười, ung dung trả lời:

- ''Chăn trâu anh hùng'' thì như Ninh Thích phục hưng nước Tề, Điền Đan thu lại thành trì cho nước Yên, Hứa Do cho trâu uống nước ở khe mà biết được hưng vong trị loạn, Bạch Lý Hề chăn dê mà hiểu thấu thời vận thịnh suy. Đó là những kẻ ''chăn trâu anh hùng''. Còn những bọn chỉ biết cam phận tôi tớ, chơi bời lêu lổng, khi vui thì reo hô hoán, khi giận thì chửi rủa, đánh đấm, chẳng kể gì thân sơ, làm cha ông phải xấu lây, xóm làng chịu điều oan. Đấy là hạng ''chăn trâu tiểu nhân'' cả !

Mọi người nghe Duy Từ đối đáp trôi chảy, sách vở tinh thông, nghĩa lí sâu sắc, càng thêm kinh ngạc, nhìn nhau, rồi đứng cả dậy, bước ra ngoài thềm mời Duy Từ cùng vào nhà ngồi. Nhưng Duy Từ vẫn tỏ ra khiêm tốn chối từ. Cả bọn bèn dắt tay Duy Từ lên nhà, ép ngồi vào chiếu trên.

Gã phú hộ Lê Phú rất đỗi ngạc nhiên, thấy kẻ đầy tớ chăn trâu nhà mình mà nói toàn chữ nghĩa nên còn ngờ, bèn giục mấy nhà Nho văn hỏi thêm, thử sức Duy Từ về kiến thức, sách vở cổ kim xem hư thực ra sao

Các vị Nho học nhất vùng hỏi đến đâu, Đào Duy Từ đều đối đáp trôi chảy đến đó và tỏ ra không có sách nào chưa đọc đến, không có chữ nào không thấu hiểu, khiến cho cả bọn phải thất kinh, bái phục sát đất !

Chủ nhà cũng không kém phần sửng sốt, mới vỗ vai Duy Từ, đổi giận làm lành, mà rằng:

- Tài giỏi như thế, sao bấy lâu cứ giấu mặt không cho lão già này biết, để đến nỗi phải chăn trâu và chịu đối xử bạc bẽo theo bọn tôi tớ ? Quả lão phu có mắt cũng như không. Có tội lắm ! Có tội lắm!

Từ đó chủ nhà may sắm quần áo mới xem Duy Từ là khách quý, mời ngồi giảng học, đối đãi hết sức trọng vọng.

2. Đổi họ để đi thi

Đào Duy Từ vốn người Đàng Ngoài, quê gốc ở làng Hoa Trai, nay thuộc xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Bố là Đào Tá Hán, trước làm lính cấm vệ trong triều, thời Lê - Trịnh. Một hôm, nhân lúc nổi hứng, Tá Hán đã sáng tác bài thơ ca ngợi chúa Trịnh như sau:

Trang quốc sử ai bằng Trịnh Kiểm
Tỏ thần uy đánh chiếm hai châu
Thẳng đường rong ruổi vó câu
Phù Lê, diệt Mạc trước sau một lời...

Tá Hán liền bị quy là phạm thượng, trong thơ dám nói cả tên húy của chúa là Trịnh Kiểm. Ông bị tội phạt đánh đòn 20 roi và bị đuổi về nhà làm dân thường.

Nhờ có tài đàn hát nên Tá Hán bèn đi theo một gánh hát để kiếm sống và ít lâu sau đã trở thành kép hát tài giỏi, nổi tiếng khắp vùng.

Có lần, gánh hát đến diễn ở làng Ngọc Lâm trong huyện. Đào Tá Hán trọ trong nhà vị tiên chỉ của làng này là Vũ Đàm. Ông tiên chỉ họ Vũ có cô cháu gái là Vũ Thị Kim Chi đem lòng yêu Tá Hán. Lúc đầu Tá Hán sợ phận mình nghèo khổ, khó kết thành vợ chồng. Nhưng sau khi nghe người nhà vị tiên chỉ thuyết phục rằng cô Chi có sẵn vốn liếng làm ăn, không phải lo nghèo chẳng nuôi nổi vợ, nên Tá Hán nghe theo.

Họ làm lễ thành hôn rồi mua đất, dựng nhà ở Hoa Trai, sau hơn một năm thì sinh ra Đào Duy Từ. Khi Duy Từ lên năm, chẳng may bố bị bệnh mất. Người mẹ chịu ở góa, một mình ngược xuôi tần tảo quyết nuôi cho con ăn học. Duy Từ tỏ ra rất sáng dạ, lại ham mê đèn sách, báo trước khả năng có thể thành đạt trên bước đường cử nghiệp.

Thế nhưng số phận thật là oái oăm! Theo luật lệ của triều đình bấy giờ, thì con cái những người làm nghề ca xướng đều không được quyền thi cử. Bà Kim Chi tiếc cho tài học của con, bèn thu gom vay mượn tiền bạc đến đút lót cho viên xã trưởng làng Hoa Trai là Lưu Minh Phương, để nhờ đổi họ Đào của con theo cha thành họ Vũ của mẹ, mong sao Duy Từ được dự kì thi Hương sắp tới .Viên xã trưởng thấy người vợ góa của Đào Tá Hán còn nhan sắc, nên nhận lời và ra điều kiện nếu xong việc thì phải lấy y.

Theo một vài tài liệu cho biết Đào Duy Từ đã dự khoa thi Hương năm 1593 đời vua Lê Thế Tông (l 567-1584) và đã đỗ á nguyên (thứ hai). Ông được mẹ khuyến khích dự tiếp kì thi Hội. Lúc này Duy Từ mới 2l tuổi.

Thấy việc đổi họ cho Duy Từ đi thi đã trót lọt, xã trưởng họ Lưu bèn đòi bà Kim Chi thực hiện giao ước tái giá về làm vợ mình. Bà Chi cứ lần chần, chối khéo, với lí do con mới thi đỗ, mẹ làm thế sẽ khó coi...

Viên xã trưởng tức giận, đem chuyện trình bày với tri huyện Ngọc Sơn, vốn là chỗ thân quen, để nhờ áp lực quan trên bắt bà mẹ Duy Từ phải thực hiện giao ước.

Viên tri huyện biết chuyện liền lập tức mật báo lên trên. Lúc này Duy Từ đang dự kì thi Hội. Bài Từ làm rất hay, chỉ có một điểm lập luận chưa vừa ý chúa, nên quan chủ khảo là Thái phó Nguyễn Hữu Liêu đang còn cân nhắc.
Giữa lúc đó thì có tin "sét đánh'' ập đến lệnh triều đình truyền xuống đòi xóa ngay tên Vũ Duy Từ, hủy bỏ bài thi, lột hết mũ áo được ban, bắt ngay để tra xét. Đồng thời, gửi trát về cho tri huyện Ngọc Sơn trừng trị những kẻ liên đới.

Luật lệ thời đó quy định xử phạt rất nặng những ai dám phạm vào quy chế thi cử. Sắc chỉ vua Lê về các kì thi Hương đã ghi: ''Nếu người nào mà bị nghi gian thì bắt giữ đích thân đem việc tâu lên để trên xét". Vì thế, ngay sau đó, Đào Duy Từ đã bị giam giữ, xét hỏi.

Ở quê bà Vũ Thị Kim Chi cũng không tránh khỏi sự truy xét. Bà vừa lo cho tính mạng của con, vừa oán giận sự khắc nghiệt, bất công của triều đình, nên đã phẫn uất đi đến tự tử.

Duy Từ biết tin mẹ mất, nhưng không được về chịu tang, thương cảm quá thành bệnh ngày càng nguy kịch.

Chính trong thời gian Đào Duy Từ gặp cảnh ngộ éo le này, thì chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613), cát cứ ở Đàng Trong, đang làm chuyến du hành ra Bắc với mục đích chúc mừng chúa Trịnh diệt được họ Mạc, luôn thể dò la tình hình của xứ Đàng Ngoài và thăm viếng phần mộ của cha ông xây cất ở vùng Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung), Thanh Hóa.

Nguyễn Hoàng có đến thăm Thái phó Nguyễn Hữu Liêu nên tình cờ nghe được chuyện ông này kể về tài năng và số phận hẩm hiu của người học trò nghèo Đào Duy Từ. Chúa Nguyễn đang nuôi ý đồ xây dựng cơ nghiệp riêng ở Đàng Trong nên muốn ''chiêu hiền đãi sĩ" lôi kéo người tài xứ Bắc về mình. Vì thế, khi biết chuyện Duy Từ, chúa đem lòng ái mộ, cảm mến, ngầm giúp Từ tiền bạc để sinh sống, chạy chữa thuốc men.

Giai thoại dân gian kể rằng, trước lúc trở về Đàng Trong, Nguyễn Hoàng đã đến thăm Đào Duy Từ. Chúa chợt thấy trên vách buồng Duy Từ đang ở có treo bức tranh cầu hiền vẽ ba anh em Lưu Bị thời Tam Quốc bên Tàu lặn lội tìm đến đất Long Trung để vời đón Gia Cát Lượng là một bậc hiền tài.

Nguyễn Hoàng bèn chỉ lên bức tranh, tức cảnh đọc mấy câu thơ để tỏ lòng cầu hiền của chúa và cũng để dò xét tâm ý Đào Duy Từ:

Vó ngựa sườn non đá chập chùng
Cầu hiền lặn lội biết bao công

Duy Từ bèn đọc tiếp:

Đem câu phò Hán ra dò ý
Lấy nghĩa tôn Lưu để ướm lòng. ..

Nguyễn Hoàng nối thêm:

Lãnh thổ đoạn chia ba xứ sở
Biên thùy vạch sẵn một dòng sông

và Duy Từ kết

Ví như chẳng có lời Nguyên Trực
Thì biết đâu mà đón Ngọa Long

Thế nhưng, kể từ khi có cuộc hội ngộ này, phải đến chục năm sau, Đào Duy Từ mới trốn được vào Nam. Lúc đó, Nguyễn Hoàng đã mất và ông phải đi ở chăn trâu cho nhà hào phú ở đất Tùng Châu, để chờ thời đem tài trí của mình cống hiến cho xã hội.

3. Bước ngoặt cuộc đời

Sau buổi đối đáp với các nhà nho ở Tùng Châu, tiếng tăm Đào Duy Từ - một kẻ chăn trâu kì lạ, tài giỏi hơn người, lan truyền khắp nơi. Bấy giờ có vị quận công, anh em kết nghĩa với chúa Nguyễn, rất có thế lực, là Khám lí Trần Đức Hòa hay tin. Ông này cho đón Đào Duy Từ đến nhà chơi. Qua các buổi chuyện trò, đàm đạo văn chương, Khám lí họ Trần đã nhận thấy Duy Từ có học vấn uyên bác, lại tỏ ra chí lớn hơn người, bèn đem lòng yêu quý và gả người con gái là Trần Thị Chính cho Từ làm vợ.

Khi đã có chốn nương thân vững chắc Đào Duy Từ mới dần dà lộ rõ chí hướng phò vua giúp nước đã nung nấu suốt mấy chục năm cho bố vợ biết. Ông đưa tác phẩm "Ngọa Long cương vãn" của mình cho Trần Đức Hoà xem. Nội dung bài chính là nỗi lòng của Duy Từ, tự ví mình như Gia Cát Lượng (là một nhà quân sự, chính trị nổi tiếng bên Trung Quốc, vì chưa được thi thố tài năng, nên còn ẩn náu ở chốn Ngọa Long). Nỗi lòng đó của Duy Từ được thể hiện rõ ở đoạn kết:

Chốn này thiên hạ đã dùng
Ắt là cũng có Ngọa Long ra đời
Chúa hay dùng đặng tôi tài
Mừng xem bốn bể dưới trời đều yên

Khám lí Trần Đức Hòa xem đi xem lại bài ''Ngọa Long cương'' của con rể, thấy văn từ khoáng đạt, điển tích tinh thông, ý chí mạnh mẽ, hoài bão lớn lao, đã tấm tắc khen, rồi tìm cách dâng lên chúa Nguyễn xem để tiến cử Duy Từ với chúa.

Bấy giờ chúa Nguyễn là Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (16l3- l635) đang có ý định kén chọn nhân tài, để dựng nghiệp lớn, nên khi xem xong bài vãn của Đào Duy Từ đã rất tâm đắc, bèn lệnh cho Khám lí Trần Đức Hòa dẫn ngay người con rể vào gặp chúa.

Gia đình nhà vợ vội may sắm quần áo, khăn mũ hợp nghi thức để Duy Từ mặc vào chầu cho thật chỉnh tề nhưng Duy Từ nhất mực từ chối, viện lẽ rằng mình không dám dùng, vì chưa có chức tước!

Trước buổi tiếp, Sãi Vương muốn thử tư cách Đào Duy Từ, nên chúa mặc y phục xuềnh xoàng, cầm gậy đứng trước cửa, thái độ lơ đãng, như chờ một kẻ hầu nào đấy.

Từ xa, Đào Duy Từ đã nhìn thấy vẻ thờ ơ của chúa, bèn giả tảng hỏi bố vợ:

- Người kia là ai vậy, thưa cha?

Trần Đức Hòa sợ hãi, trả lời:

- Ấy chết! Sao con dám hỏi vậy? Vương thượng đấy, Người đứng chờ, con mau mau đến bái lạy!

Duy Từ nghe bố vợ nói, chỉ cười nhạt rồi quay lại chực không đi nữa. Khám lí Trần đi trước, ngoảnh lại thấy con rể bỏ về, sợ khiếp đảm, liền níu lại quở trách:

- Con làm thế này thì tội phạm thượng sẽ trút lên đầu cha cả thôi!

Duy Từ đáp:

- Thưa cha, vì con thấy chúa đang trong tư thế đi dạo với các cung tần mỹ nữ, chứ không có nghi lễ gì gọi là tiếp đón khách hiền. Nếu con lạy chào tất phạm vào tội khinh vua.

Nghe con rể nói vậy, ông bố vợ lại càng thất kinh, cáu kỉnh cầm tay Duy Từ bắt trở lại ngay, để lạy chào chúa, không được để chúa phải chờ. Nhưng Duy Từ vẫn dùng dằng không chịu nghe lời.

Từ xa, Sãi Vương đã để ý quan sát thấy tất cả, biết Đào Duy Từ là kẻ tài giỏi thực, tính khí khái, chứ không giống những bọn tầm thường, chỉ cốt quỵ lụy, được ra mắt chúa, hòng tiến thân để kiếm chút bổng lộc, chức tước mà thôi. Chúa bèn quay vào nội phủ, thay đổi áo quần và bảo thái giám đem áo mũ ban cho Duy Từ, rồi vời vào sảnh đường tiếp kiến.

Kể từ buổi đó, Đào Duy Từ được chúa Sãi Vương tin yêu, trọng vọng, tôn làm quân sư, luôn ở cạnh chúa để bàn bạc việc quốc gia trọng sự. Ông được phong chức Tán trị, tước Lộc Khê hầu, nên người đời vẫn quen gọi ông là Lộc Khê.

4. Tài năng được thi thố

Năm 1627, chúa Trịnh Đàng Ngoài muốn bắt họ Nguyễn ở Đàng Trong thần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Sãi Vương và đòi lễ vật cống nạp. Chúa Sãi không chịu, nhưng bề ngoài chưa biết xử trí ra sao, bèn hỏi ý kiến Lộc Khê Đào Duy Từ. Theo một số tư liệu, thì chính Duy Từ là người khuyên chúa bước đầu cứ nhận sắc phong, rồi sau sẽ tìm kế đối phó.

Ba năm sau, thấy thời cơ thuận lợi, bấy giờ Lộc Khê mới bàn với Sãi Vương, sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc vua Lê phong kèm với một tờ giấy có 4 câu chữ Hán vào giữa, rồi hàn kín lại. Trên mâm cho bày nhiều lễ vật hậu hĩnh, rồi cử sứ giả mang ra Thăng Long, để tạ ơn vua Lê, chúa Trịnh.

Triều đình Đàng Ngoài nhận được mâm lễ vật tỏ ý ngờ vực, bèn cho khám phá bí mật ở phía trong và cuối cùng họ đã phát hiện chiếc mâm có hai đáy. Khi đem đục ra thì thấy có sắc vua phong dạo trước và tờ giấy viết bốn câu chữ Hán sau:

Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch

Dịch nghĩa từng câu là: chữ ''mâu'' không có dấu phết; chữ ''mịch'' bỏ bớt chữ ''kiến''; chữ ''ái'' để mất chữ ''tâm'' và chữ ''lực'' đối cùng chữ ''lai''.

Thoạt đầu, chúa Trịnh và cả đình thần không ai hiểu bốn câu trên ngụ ý gì. Sau chúa phải cho vời viên quan thông thái nhất triều vào hỏi, thì mới vỡ lẽ rằng, trong chữ Hán, chữ ''mâu'' viết không có dấu phết thì thành chữ ''dư''. Chữ ''mịch" mà bỏ chữ ''kiến'' thì là chữ "bất''. Chữ ''ái'' nếu viết thiếu chữ ''tâm'' thì ra chữ ''thụ'' và chữ ''lực để cạnh chữ ''lai'' sẽ là chữ ''sắc''. Gộp cả bốn chữ mới lại thành câu: ''Dư bất thụ sắc'', nghĩa là ''Ta chẳng chịu phong''.

Chúa Trịnh thấy họ Nguyễn chối từ, trả lại sắc phong bằng một mẹo kế tài tình, thì vừa tức giận, vừa phục tài, bèn cho dò la và biết được đều do Lộc Khê Đào Duy Từ bày đặt ra cả. Chúa tính kế làm sao để lôi kéo Lộc Khê bỏ chúa Nguyễn Đàng Trong về với triều đình Lê - Trịnh Đàng Ngoài.

Chúa lập mưu sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu Đào Duy Từ, kèm một bức thư riêng để nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài, nếu trở về sẽ được triều đình trọng vọng, cho giữ chức quan to.

Đào Duy Từ đã trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp chúa Trịnh như sau:

Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra?...

Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được họ Đào, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ý còn bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hi vọng, bèn cho người đem lễ vật hậu hơn, cầm thư chúa vào gặp Đào Duy Từ lần nữa.

Lần này, ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh. Hai câu đó như sau:

Có lòng xin tạ ơn lòng
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!

Từ đấy Đào Duy Từ ở lại giúp chúa Nguyễn ổn định và phát triển vùng đất miền trong, mở mang bờ cõi đất nước ta cho đến lúc qua đời. Ông đã đem tài trí của mình cống hiến cho xã hội về nhiễu lĩnh vực. Ông là một nhà quân sự tài ba, kiến trúc sư xây dựng lũy Trường Dục ở Phong Lộc và lũy Nhật Lệ ở Đồng Hới, thuộc tỉnh Quảng Bình, để chống lại các cuộc tấn công của quân Trịnh. Lũy Nhật Lệ còn gọi là lũy Thầy (vì chúa Nguyễn và nhân dân Đàng Trong tôn kính gọi Đào Duy Từ là Thầy). Lũy này được hoàn thành năm 163l, có chiều dài hơn 3000 trượng (khoảng hơn l2 km), cao l trượng 5 thước (khoảng 6 m), mặt lũy rất rộng (voi có thể đi lại được) cứ cách một quãng lại xây pháo đài để đặt súng thần công. Chiến lũy này có vị trí gần khe, dựa vào thế núi, chạy dài suốt cửa biển Nhật Lệ, trông giống hình cầu vồng, có tác dụng chặn được bước tiến của quân Trịnh trong hàng trăm cuộc giao tranh. Đương thời có các câu ca dao:

Khôn ngoan qua cửa sông La
Dù ai có cánh chớ qua lũy Thầy

有 智 勇 兮,岢 過 青 河
縱 有 翼 兮 , 長 壘 不 岢 跨

“Hữu trí dũng hề,khả quá Thanh Hà
Túng hữu dực hề,Trường lũy bất khả khoa

Mạnh thì qua được Thanh Hà.
Dẫu rằng có cánh khôn qua lũy Thầy

Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước như tranh họa đồ
Yêu anh em cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang

Phá Tam Giang bây giờ đã cạn
Truông nhà Hồ, Nội tán cấm nghiêm

Hoàng Kim
(Sưu tầm và tuyển chọn)

Tài liệu tham khảo chính
Báo Bình Định http://www.baobinhdinh.com.vn/datnuoc-connguoi/2005/12/20241/; Diễn Đàn AVSN http://www.avsnonline.net/forum/viewtopic.php?t=3183 ; Nguyễn Khắc Thuần (Giai thoại dã sử Việt Nam trích dẫn theo Trịnh - Nguyễn diễn chí, quyển 2); Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Bình http://www.quangbinh.gov.vn/3cms/?cmd=130&art=1187249284555&cat=1185874918112; Trần Trọng Kim 1921 Việt Nam sử lược, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin 1999; Trần Xuân Toàn (Nguồn Báo Bình Định) http://nau.vn/News/Con-Nguoi/Danh-Nhan-Xu-Nau/Giai-thoai-ve-Dao-Duy-Tu-net-moi-trong-kho-tang-giai-thoai-Viet-Nam/Show-1962/;