Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011

Thêm tài liệu quý về Hồ Chí Minh


DANHNHANVIET. “Huyền thoại kép” Hồ Chí Minh vinh quang và những hệ lụy  là bài viết của Ngô Trần Đức. Tài liệu quý này đã giải mã nhiều vấn đề sự thật về Hồ Chí Minh. “Chính người cộng sản - ái quốc Hồ Chí Minh, trong vai trò “huyền thoại kép” này, đã giúp ông đạt được những thành tựu diệu kỳ cho đất nước, nhưng nó cũng gây cho cá nhân ông bao hệ lụy cay đắng phải gánh chịu cho đến ngày nay. Sở dĩ ông vượt qua được và thành công chính là nhờ khả năng vận động uyển chuyển giữa hai cực đó, nghĩa là biết điều chỉnh và thỏa hiệp nhất định với thực tế cay nghiệt của hoàn cảnh để tồn tại và phát triển, vì lợi ích của dân tộc và lợi ich của cách mạng…Đó là di sản tinh thần quý báu  mà Hồ Chí Minh để lại …” Trích kết luận của Ngô Trần Đức.


“HUYỀN THOẠI KÉP” HỒ CHÍ MINH :

VINH QUANG VÀ NHỮNG HỆ LỤY


Ngô Trần Đức


Mở đầu

 

          Trong Lời giới thiệu công trình nghiên cứu của mình- “Hồ Chí Minh: Những năm tháng chưa được biết đến”- bà Sophie Quinn-Judge gọi Hồ Chí Minh là một “huyền thoại kép”(The double myth), với ý nghĩa ông là lãnh tụ duy nhất của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á nửa đầu thế kỷ XX mang hai nhân cách: vừa là người yêu nước (dân tộc), vừa là người cộng sản (quốc tế). Theo tôi, chính “huyền thoại kép” này đã đem lại cho ông cả vinh quang lẫn cay đắng, với nghĩa là đã phải chịu đựng những hệ lụy không đáng có, liên tục trong những năm dài hoạt động cách mạng của mình.

          Đối với phần đông nhân loại tiến bộ là bạn bè của Việt Nam, Hồ Chí Minh là biểu tượng trong sáng, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa “người chiến sĩ yêu nước nồng nàn” với “người chiến sĩ quốc tế trong sáng”- suốt đời chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình và sự nghiệp giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức. Ông J. Sainteny - người đã “đối mặt với Hồ Chí Minh” trong nhiều năm, từng viết: “Trong đời tôi, có biết bao nhiêu lần người ta đã hỏi tôi: ông là người biết rõ Cụ Hồ, vậy Cụ là một người quốc gia (dân tộc) hay là người cộng sản? Câu trả lời rất đơn giản: “Cụ Hồ vừa là người này, vừa là người kia. Đối với Cụ, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản, mục đích và phương tiện, bổ sung cho nhau, hay nói đúng hơn, hòa quyện vào nhau”.[1]Với một cách diễn đạt khác, cố Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng cũng có lần nói: Hồ Chí Minh là người yêu nước 100% mà cũng lầ người cộng sản 100% !

          Nhưng oái oăm thay, trong một thời gian dài, từ những năm 30 cho đến những năm 50 thế kỷ trước và cả ngày nay, Hồ Chí Minh lại lâm vào thế ở giữa hai làn đạn:

          Đối với những người đối lập, Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc - người yêu nước.  Theo họ, sau khi rời bỏ Đảng Xã hội Pháp, bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế 3, rồi đi Maxkva, Nguyễn đã từ bỏ chủ nghĩa quốc gia-dân tộc của nhóm Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, trở thành người cộng sản - một người cộng sản thuần thục, một phần tử staliniste, một Kominterchik đắc lực, được Staline cử vè để “xích hóa” cả khu vực Đông Nam Á!, v.v..

          Theo họ, không có cái gọi là “sự thất sủng” của Hồ Chí Minh thời kỳ 1934-1938, vì hầu hết các lãnh tụ cộng sản đại diện cho đảng mình ở QTCS thời gian đó đều bị thanh trừng và giết hại, duy chỉ có một mình Hồ Chí Minh sống sót, ngôn luận Hồ Chí Minh khi phê phán trôtxkít hồi đó đều giống hệt ngôn luận của Staline,…

          Đối với Chính phủ các nước phương Tây như Mỹ, Anh, Pháp và Trung Hoa Tưởng Giới Thạch,…Chính phủ Hồ Chí Minh vỏ là Việt Minh nhưng ruột là cộng sản! Người Pháp không lạ gì lai lịch Hồ Chí Minh - con người mà họ đã tốn bao công sức săn đuổi, tìm diệt mà không thành công. Người Mỹ, theo tình báo của họ, cũng cho Hồ Chí Minh là cộng sản, thân Maxkva, nên không công nhận Chính phủ Hồ Chí Minh sau 1945. Lúc đầu họ còn giữ thái độ trung lập trong cuộc xung đột Việt-Pháp, sau khi Roosevelt chết, Truman đã hoàn toàn ủng hộ Pháp trở lại cai trị Đông Dương.

          Lư Hán, Tiêu Văn,…đem gần 20 vạn quân Tưởng vào bắc Việt Nam , tiếng là để giải giáp quân Nhật, nhưng không dấu diếm mục tiêu “diệt Cộng, cầm Hồ”, hòng dựng lên một chính quyền gồm những tay chân trung thành với họ. Một học giả Đài Loan, ông Tưởng Vĩnh Kính, cũng cho Hồ Chí Minh là “nhất cá dân tộc chủ nghĩa ngụy trang giả”, nghĩa là một người cộng sản đội lốt chủ nghĩa dân tộc mà thôi!

          Nhưng bi kịch hơn lại là ở chỗ chính QTCS và các học trò của Hồ Chí Minh, từng được ông huấn luyện, sau được Maxkva đào tạo lại, trở thành những người cộng sản “cứng rắn”, đã quay lại phê phán Hồ Chí Minh rất nặng nề: là phần tử hữu khuynh, dân tộc chủ nghĩa,…nhất là sau khi thoát khỏi vụ án Hồng Kông, trở về được Maxkva, Hồ Chí Minh không chỉ bị phê phán về quan điểm mà còn bị nghi vấn nghiêm trọng cả về chính trị.

 Có thể chía những hệ lụy mà Hồ Chí Minh phải chịu đựng, chung quanh mối quan hệ dân tộc và giai cấp, thành mấy giai đoạn như sau:

 

          Giai đoạn 1: 1928-1933 (từ Hội nghị hợp nhất đến khi N.A.Q.bị bắt)

          1. Sau phản biến của Tưởng Giới Thạch 12-4-1927, mặt trận Quốc - Cộng hợp tác tan vỡ, tín nhiệm của Hồ Chí Minh bị suy giảm, các nhân vật chủ chốt trong phái bộ của M. Borodine đều mất chức, ít năm sau thì bị thanh trừng. Hồ Chí Minh không được giữ lại Maxkva, phải tự tìm đường về Xiêm để tiếp tục hoạt động. Thời gian ở Xiêm, trước và sau Đại hội VI QTCS (1928), Hồ Chí Minh cũng không có liên lạc gì với QTCS.

          Trước tình trạng chia rẽ giữa các nhóm cộng sản trong nước, một thành viên cũ của tổ chức “Thanh Niên” đã tìm đường sang Xiêm báo cáo với Hồ Chí Minh. Ý thức được cương vị và trách nhiệm của mình đối với CM Việt Nam , Hồ Chí Minh đã chủ động đứng ra triệu tập Hội nghị Hợp nhất, xóa bỏ được bất đồng, thành lập Đảng CS Việt Nam, thảo Chính cương, Sách lược vắn tắt, ra Lời kêu gọi …Từ nội dung các văn kiện đến cách tiến hành hội nghị của Hồ Chí Minh, đều thể hiện sự quán triệt tinh thần của Lênin và nghị quyết Đại hội V QTCS (1924).

 Có thể tóm tắt mấy quan điểm cơ bản của Lênin trong Sơ thảo Luận cương cũng như khi ông phát biểu tại Đại hội II QTCS (1920) về vấn đề dân tộc và thuộc địa, như sau:
          - “Mọi phong trào dân tộc (ở thuộc địa) chỉ có thể là dân chủ tư sản thôi, vì quảng đại quần chúng nhân dân ở các nước lạc hậu là nông dân, tức là những người đại diện cho những quan hệ tư bản. Nếu…những đảng vô sản ở trong các nước đó…không ủng hộ phong trào này trên thực tế, mà lại có thể thi hành sách lược và chính sách cộng sản trong những nước lạc hậu đó, thì là không tưởng”.
          - “QTCS nên lập khối liên minh tạm thời với phái dân chủ tư sản ở các nước thuộc địa và các nước chậm tiến,…nhưng phải giữ vững tính độc lập của phong trào vô sản, dù cho phong trào này còn ở dưới hình thức phôi thai nhất”.
          - “Phải áp dụng như thế nào sách lược và đường lối chính trị cộng sản trong những điều kiện các quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa còn thống trị ở đó, vì thế không thể nói đến phong trào thuần túy vô sản được, do ở đó hầu như không có giai cấp vô sản công nghiệp”…[2]
          Những quan điểm này của Lênin đã được Nguyễn Ái Quốc tiếp thu vì nó đúng với thực tiễn của phong trào GPDT ở phương Đông và Việt Nam, nên đã quán triệt nó khi viết Đường Kách Mệnh và soạn thảo Chính cương, Sách lược vắn tắt,… Nhưng tất cả đều bị phủ định và phê phán, vì vào thời điểm này người ta đã xa rời các quan điểm đúng đắn ấy của Lênin.
          Vậy bước chuyển sang đường lối “tả” khuynh của Staline và Đại hội VI QTCS (1928) diễn ra trong bối cảnh lịch sử nào?
          -Cuộc phản biến của Tưởng Giới Thạch - đại biểu của giai cấp tư sản Trung Quốc- đã phá vỡ mặt trận hợp tác Quốc-Cộng của Tôn Dật Tiên đồng thời cũng làm thất bại sách lược liên minh của Staline và QTCS.
          -Cuộc Tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản 1929-1933 đang đến gần, dẫn đến những dự báo lạc quan về triển vọng bùng nổ CM vô sản ở châu Âu, đến sự đánh giá phiến diện về tính chất của giai cấp tư sản và vai trò của các đảng dân chủ xã hội QT2.  Khẩu hiệu “giai cấp chống giai cấp” được đề cao, họ nhấn mạnh độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản và nôn nóng thực hiện ngay CMVS,…
          -Đây cũng là thời điểm Staline đã giành được chiến thắng tuyệt đối trong cuộc đấu tranh giành quyền lực trong nội bộ ĐCS Liên Xô. Tại Hội nghị toàn thể BCH QTCS thời gian đó, Otto Kuusinen - Ủy viên Đoàn CT Quốc tế cộng sản, phụ trách vấn đề thuộc địa- đã kêu gọi các ĐCS “hãy gột rửa mình khỏi chủ nghĩa cơ hội để trở nên tinh khiết”. Ông cũng nhắc nhở các ĐCS ở thuộc địa cần có sự điều chỉnh chính sách, sao cho có tính chất giai cấp mạnh mẽ hơn.
Vì vậy, báo cáo của Nguyễn Ái Quốc về kết quả của Hội nghị hợp nhất đã không được thừa nhận. Trong một thư gửi Nguyễn Ái Quốc,  Ban Viễn Đông QTCS có viết: “Chúng tôi có thể quả quyết rằng, trong thực tế, đồng chí đã xa rời những nguyên tắc đó” (tức những nguyên tắc mà Đại hội VI QTCS (1928) đã thông qua, được nêu trong Chỉ thị mà Nguyễn Ái Quốc không nhận được-hoặc không được gửi cho).[3]
          Trần Phú, Ngô Đức Trì là những học viên lớp đầu của Trường Phương Đông trong khoảng thời gian từ 1927 đến 1930, đã được đào luyện rất kỹ theo tinh thần “giai cấp chống giai cấp” của Đại hội VI, trở thành những người cộng sản ‘cứng rắn”, được cử về để “uốn nắn” lại những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc !
          Người phê phán gay gắt nhất Nguyễn Ái Quốc là Trần Phú. Tại Hội nghị TƯ tháng 10-1930, ông phê phán những sai lầm về chính trị và tổ chức của Hội nghị hợp nhất là “chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh, ấy là một sự rất nguy hiểm”, về “chia địa chủ làm đại, trung và tiểu địa chủ”, về “nóí  phải lợi dụng bọn tư bản mà chưa rõ mặt phản cách mạng”, cùng một số sai lầm khác, sau đó ra nghị quyết ‘thủ tiêu Chính cương, Sách lược và Điều lệ cũ của Đảng”[4]. Sau Hội nghị TƯ 10-1930, trong thư gửi QTCS ngày 17-4-1931, ông còn phê phán nội dung Hội nghị hợp nhất “mang nặng dấu ấn các tổ chức CM cũ, các vấn đề cơ bản đều mâu thuẫn với đường lối QTCS (do thiếu một chính sách giai cấp),…mang dấu ấn nhất định của thời kỳ Quốc -Cộng hợp tác 1925-1927”[5].
          Trần Phú được cử làm Tổng bí thư, Nguyễn Ái Quốc sau đó bị mất vai trò lãnh tụ tối cao, chỉ còn là cái “thùng thư” trung chuyển giữa Ban TƯ trong nước với QTCS và ngược lại. Nhiều bài báo Nguyễn Ái Quốc gửi về Maxkva thời gian này đã không được đăng trên Inprecor, như chính Nguyễn Ái Quốc thắc mắc trong thư gửi QTCS ngày 2-1-1931.
          2. Sau khủng bố trắng 1930-1931, BCH TƯ trong nước hầu hết bị bắt và hy sinh, Nguyễn Ái Quốc và nhiều cán bộ của Chi nhánh Ban Viễn Đông ở Thượng Hải cũng bị bắt, nhân vật nổi lên lúc này là Hà Huy Tập. Tuy chưa về nước, nhưng trong những tài liệu viết gửi QTCS, để tỏ rõ sự kiên định mácxít của mình, ông đã không bỏ lỡ cơ hội nào có thể để phê phán những quan điểm “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, về sắp xếp lực lượng cách mạng và về sách lược liên minh, hợp tác trong CM, v.v..
 Ông từng viết: Đường Cách mệnh là cuốn sách cực kỳ sơ đẳng, đã định nghĩa CM Việt Nam là một cuộc CM chống đế quốc “nhưng họ chưa bao giờ nói rõ rằng giai cấp nào phải là người lãnh đạo cuộc CM này (g/c tư sản hay g/c vô sản?)… Người ta cho rằng trước hết cần phải tiến hành CM dân tộc, trước khi làm CM thế giới, nhưng hoàn toàn quên rằng CMGPDT là một bộ phận không tách rời của CM thế giới,…Họ vẫn có một lý luận chính thức, theo đó cần phải liên kết tất cả mọi giai cấp trong thời kỳ tranh đấu chống chủ nghĩa đế quốc. Không hơn không kém, lý luận đó có nghĩa là sự hợp tác giai cấp,…không xác định động lực của CM Đông Dương và không hiểu đúng độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản…”[6]. Ông mỉa mai: đó là thứ lý luận “ngu ngốc”, “không thể nhịn cười được”.
 Ngay cả khi được tin Nguyễn Ái Quốc đã lâm bệnh, qua đời ở Hồng Kông, trong bài viết như để truy điệu, Hà Huy Tập cũng không quên nhắc đến những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc: “Công lao mà ông đã đóng góp cho Đảng chúng ta thật là lớn. Song các đồng chí chúng ta trong lúc này không được quên những tàn dư dân tộc chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quốc, các chỉ thị sai lầm của ông về những vấn đề cơ bản của phong trào CM…Ông đã không đưa ra bàn luận trước về những sách lược mà QTCS đòi hỏi phải áp dụng để loại bỏ những phần tử cơ hội trong Đảng. Ngoài ra, ông còn khuyến dụ một sách lược cải lương và hợp tác sai lầm: trung lập hóa tư sản và phú nông, liên minh với trung và tiểu địa chủ”.[7]
Đương nhiên, đây là sự phê phán một chiều, do một mình Hà Huy Tập tiến hành, trong  khi Nguyễn Ái Quốc vẫn còn đang bị tù ở Hồng Kông.
Giai đoạn 3: 1934-1938 ( sau khi Nguyễn Ái Quốc đã trở về Maxkva)
Có thể nói đây là giai đoạn khó khăn nhất của Nguyễn Ái Quốc, là những năm tháng ông phải chịu đựng những thử thách nặng nề, phải vượt qua những nghi kỵ đau đớn, không phải trước kẻ thù mà trước những người đồng chí của mình. Trong thư ngày 29-6-1935 của bà V. Vasilieva gửi Ban bí thư Ban Viễn Đông, có nêu một nghi vấn: “Khó xác định được tại sao đồng chí ấy lại dễ dàng ra khỏi nhà tù và thoát khỏi tay cảnh sát Pháp và tóm lại tại sao đồng chí ấy lại nhận được một bản án nhẹ nhàng như vậy?”[8]
Thời gian này, Hà Huy Tập đã trở về Trung Quốc, đứng đầu Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Ngày 31-3-1935, trong thư gửi QTCS, ngoài nội dung chính là báo cáo kết quả của Đại hội Ma Cao, trong 10 điểm nói thêm, có 2 điểm báo cáo về Nguyễn Ái Quốc, ở điểm thứ mười, ông đã viết: “Ở Xiêm và Đông Dương, các tổ chức cộng sản đã tiến hành một cuộc đấu tranh công khai chống lại những tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương của đảng Thanh niên và của đ/c Nguyễn Ái Quốc, những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản…Chúng tôi đề nghị đ/c Lin viết một quyển sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua”.[9] Ngoài ra, báo cáo còn nói thêm một vài điểm được “nghe kể lại” nữa, rất nguy hại về chính trị cho Nguyễn Ái Quốc.
Những thông tin của Hà Huy Tập, cùng với những nghi vấn đang đặt ra cho Nguyễn xung quanh vụ án Hồng Kông, đã dẫn đến quyết định của Ban Viễn Đông QTCS về tương lai của Nguyễn Ái Quốc:
- Không chấp nhận Nguyễn Ái Quốc là đại biểu chính thức của ĐCS ĐD tham dự ĐH VII QTCS sẽ diễn ra vào tháng 7-1935;
- Không chấp nhận Nguyễn Ái Quốc là đại diện thường trú của ĐCSĐD bên cạnh QTCS, đề nghị cử một ứng viên khác;
          -Thông báo về thân phận của Nguyễn Ái Quốc trong 2 năm tới: Sẽ cử đi học, phải nỗ lực học cho tốt, rồi mới có kế hoạch sử dụng sau.[10]
          Thời gian này, Nguyễn chỉ được tập trung vào việc học, không được viết báo, không được đi thực tế địa phương, xí nghiệp, công trường,…như các học viên khác. Sau khi tôt nghiệp, Nguyễn trở về nhận công tác ở Viện nghiên cứu các vấn đê dân tộc và thuộc địa, do Pavel Mif làm giám đốc. V.Vasilieva đã có những cố gắng để giải thoát cho Nguyễn. Bà lập một dự án đào tạo mới cho các học viên ĐD, “đề cử đ/c Lin tổ chức và điều hành trường này, lý do đ/c đã hoàn tất việc học tập và nghiên cứu của mình tại Maxkva”. Nhưng dưới bản đề nghị có bút phê của ai đó: “Mọi đề nghị đều bị hủy bỏ, chỉ giải quyết sau khi vấn đề đã được làm sáng tỏ”. Vấn đề gì, không ai biết, nên Nguyễn lại phải ghi tên vào học tiếp một lớp nghiên cứu sinh ngành lịch sử Đảng. Chẳng có thú vị gì phải ngồi học khi tình hình thế giới đang chuyển biến mạnh mẽ, nên kết quả học tập của Nguyễn đa số chỉ đạt trung bình!
          Vào thời kỳ này, trong ĐCS LXô diễn ra một cuộc thanh trừng lớn. L. Trotsky, G. Zinoviev, N.I.Boukharine đã bị đánh bại và xử trí từ 1928-29, nay đến lượt nhiều bạn bè, đ/c quen biết của Nguyễn bị vào cuộc: Pavel Mif-Giám đốc Viện nghiên cứu các vđ dân tộc và thuộc địa bị bắt năm 1937. Rất nhiều thành viên QTCS đã giúp thực hiện đường lối cứng rắn những năm 1928-29 cũng bị trừng trị: Rylsky, Gailis, Vasiliev, cả Piatnhítxky (tức Orgwald, một tên tuổi lớn), rồi Dombal, Voline,…đều bị  lôi cuốn vào cuộc thanh trừng.
          Vậy tại sao Nguyễn Ái Quốc lại có thể tồn tại được trong tình hình ấy? Nhờ đâu? Được ai bảo vệ? Hiển nhiên là Nguyễn Ái Quốc không tránh được có ý kiến khác với đường lối của Staline. Sự im lặng, phục tùng không đủ sức để cứu ông, nếu ông là người Ba Lan, Đức, Thổ nhĩ kỳ, người vùng Baltique - những nước láng giềng có chung biên giới với Liên Xô. Họ đều bị loại, trong khi đại diện các đảng CS Anh, Pháp, Mỹ - những nước ở xa, được đối xử khoan dung hơn. Trường hợp Nguyễn Ái Quốc có thể giải thích như thế nào?
          - Có thể vì chỉ là cán bộ cấp thấp, không quan trọng, là người bản xứ ở một nước xa xôi, không có vị trí chiến lược trong chính sách đối ngoại của LXô?
          - Có thể vì Nguyễn Ái Quốc biết giữ minh, biết hành xử thận trọng, không bao giờ tỏ ra là một nhà lý luận (không thích tranh cãi như M.N. Roy của Ấn Độ, ông này đã bị khai trừ ngay sau ĐH VI QTCS).
          - Có thể vì Nguyễn Ái Quốc đã nghiêm chỉnh chấp hành đầy đủ mọi quy định của QTCS trong thời gian kiểm tra, thử thách, được V.Vasilieva và André Marty,…bênh vực, che chở, được D.Manuilsky - một người có thế lực, thân cận với Staline - thông cảm, ủng hộ, v.v..?
          Năm 1938, Pavel Mif bị xử tử, giữa năm đó, Viện nghiên cứu các vđ dân tộc và thuộc địa bị đóng cửa. Có lẽ đây là thời điểm chín muồi để ngày 6-6-1938, Nguyễn Ái Quốc quyết định viết thư cho D.Manuilsky, giãi bày tâm trạng và nguyện vọng được “giúp đỡ thay đổi tình cảnh đau buồn” của mình: “Hãy phân tôi đi đâu đó…Hãy giao cho tôi làm một việc gì mà theo đồng chí là có  ích…đừng để tôi phải sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động, giống như là sống ở bên lề, bên ngoài của Đảng”.[11]
Ngày 29-9-1938, nguyện vọng của Nguyễn Ái Quốc được chấp thuận. Do đâu? Hiển nhiên là trước nguy cơ chủ nghia phát xít, các lực lượng dân chủ cần liên minh lại với nhau, ở Pháp đã hình thành Mặt trận Nhân dân, ở Trung Quốc, mặt trận hợp tác Quốc-Cộng lần thứ 2 đã được tái lập. Thực tế đó buộc người ta phải trở lại với quan điểm của Lênin về mặt trận thống nhất. Trước khi Nguyễn lên đường đi Trung Quốc, V.Vasilieva đã thuyết phục D.Manuilsky gặp để nghe ông phát biểu.
 Đến đây, kết thúc thời kỳ gần 10 năm Nguyễn Ái Quốc bị đánh giá sai, nghi kỵ, vô hiệu hóa, để về nước trực tiêp lãnh đạo CM Việt Nam đi tới thắng lợi năm 1945.
    Giai đoạn 4: 1945-1950 (thời kỳ CM Việt Nam bị cô lập với phong trào CSQT)

           -Bối cảnh chính trị thế giới và Việt Nam giai đoạn này:
 
          Năm 1943, QTCS tuyên bố tự giải tán, để cho các ĐCS được quyền tự chủ công việc của mình theo đặc điểm mỗi nước (một phần là sách lược, do LX đã gia nhập Đồng Minh, phần khác, do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, khó có điều kiện chỉ đạo). Đến khi chiến tranh kết thúc, tháng 7-1947, Staline cho lập ra Cục thông tin Quốc tế CS (Kominform) để nắm dần lại.
          Việt Nam giành được độc lập từ trong tay Nhật, nhưng chỉ vài ngày sau lễ tuyên ngôn độc lập, gần 20 vạn quân Tưởng và các tổ chức tay chân ồ ạt kéo vào miền Bắc; hàng vạn quân Anh-Ấn, núp sau là quân viễn chinh Pháp, kéo vào miền Nam; tàn quân Pháp tháo chạy sang Vân Nam trước đây, được tái vũ trang, cũng đang rục rịch trở lại miền Băc .
          Vào thời điểm đó,Việt Nam như hòn đảo tự do giữa vòng vây của thế giới tư bản, với sức ép của một lực lượng quân đội nước ngoài khổng lồ ở ngay cạnh sườn (kể cả quân đội Nhật chưa giải giáp, con số lên đến non nửa triệu quân), trong khi lực lượng vũ trang của chúng ta còn quá nhỏ bé, trang bị rất thô sơ, chưa được huấn luyện về chiến đấu, có thể bị đè bẹp bất cứ lúc nào.
          Về chính trị, Tiêu Văn vào Việt Nam còn để hỏi tội Hồ Chí Minh: đã nhận lời hợp tác với họ để hỗ trợ “Hoa quân nhập Việt” sao lại dám lập chính phủ độc quyền cộng sản? Sau nhiều lần hạch sách, trách cứ, có lần họ đã giữ Hồ Chí Minh lại tại bản doanh như một kiểu giữ con tin để gây áp lực. Các tổ chức Việt Quốc,Việt Cách dựa thế quan thày, ra sức gây rối hòng giành chính quyền về tay họ. Ngày 8-11-1945, Nguyễn Hải Thần gửi tối hậu thư yêu cầu Hồ Chí Minh từ chức, xóa bỏ ngay chế độ độc tài, lập chính phủ mới không có sự kiểm soát của ĐCS! Tối hậu thư này, được sự chuẩn bị và chuẩn y của Lư Hán và Tiêu Văn, đe dọa: nếu Hồ Chí Minh không chấp nhận tối hậu thư, họ sẽ không chịu trách nhiệm về một cuộc xung đột vũ trang giữa hai bên!
          Một cuộc đảo chính quân sự có thể xảy ra dưới sự đạo diễn và hỗ trợ của quân đội Tưởng, đó là việc trong tầm tay của họ. Trước khả năng ấy, cần phải hy sinh, nhượng bộ một cái gì đó để thoát hiểm.[12] Có thể tham khảo ý kiến của ai? ĐCS TQ ở tít tận Diên An và Mãn Châu. ĐCS Pháp, từ sau CM tháng Tám, chưa có liên hệ gì với Việt Nam. Trước nguy cơ mất còn, tự mình phải quyết đoán. Hồ Chí Minh đã thuyết phục Trường Chinh, rồi với tinh thần dũng cảm, sẵn sàng chịu trách nhiệm trước lịch sử, ông đã đưa ra một quyết định phi thường:
          1. Tuyên bố ĐCS ĐD tự giải tán ngày 11-11- 1945 (thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật, báo Cờ Giải phóng được thay bằng tờ Sự Thật, lập ra tổ chức mới: Hội những người nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, song vai trò lãnh đạo CM của Đảng vẫn được giữ nguyên).
          2. Chấp nhận cải tổ Chính phủ (lùi ngày Tổng tuyển cử, tạo điều kiện cho các đảng đối lập tham gia, rồi thuyết phục Quốc hội mới chấp nhận cho họ thêm 70 ghế đại biểu không qua bầu cử), lập Chính phủ Liên hiệp gồm 10 bộ (Việt Minh 2, Dân Chủ 2, Việt Quốc 2, Việt Cách 2, Không đảng phái 2).
          Sự nhượng bộ này là một cách tháo ngòi nổ của một cuộc đảo chinh quân sự (mà phe Tưởng đang chuẩn bị tiến hành), nhằm bảo vệ thành quả CM mà vai trò lãnh đạo của Đảng vẫn tồn tại trong thực tế. Tuy vậy, giải pháp này đã gây ra phản ứng trong một bộ phận cán bộ của Đảng (dù không bộc lộ công khai). Họ cho rằng quyết định này làm tổn hại đến uy tín của Đảng và đòi Đảng phải được khôi phục lại ngay[13] .
          Nhưng đến năm 1949, thì sự phản ứng này đã bộc lộ công khai, thành một sự kiện làm ảnh hưởng đến quan hệ của Đảng CS ĐD, nhất là của Hồ Chí Minh, với ĐCS Liên Xô và Staline. Đó là sự kiện Trần Ngọc Danh - nguyên Trưởng phái đoàn đại diện Chính phủ ta ở Paris, tự ý bỏ nhiệm vụ, đào ngũ sang Praha, từ đó viết 2 bức thư gửi BCH TƯ ĐCS Liên Xô, với nội dung:
          +Phê phán đường lối chính trị cơ hội của ĐCS ĐD: đã công khai giải tán Đảng ngày 11-11-1945, việc này được thực hiện với sự can thiệp tích cực của Hồ Chí Minh. Đường lối mà Hồ Chí Minh áp dụng hiện nay chính là sự tiếp tục đường lối mà ông ta đã khởi xướng từ năm 1930 (tức Chính cương, Sách lược vắn tắt) và đường lối ông ấy đưa ra tại Hội nghị TƯ 8 tháng 5-1941, là đường lối theo chủ nghĩa dân tộc tư sản.
          +Từ đó, Trần Ngọc Danh quy kết những người cộng sản Việt Nam hiện nay đang đi ngược lại chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã trở thành người chống Đảng, thù nghịch với Liên Xô, đã từ bỏ chủ nghĩa quốc tế vô sản và học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác,…Cuối thư, Trần Ngọc Danh cam kết trung thành với ngọn cờ của Lénine và Staline, mãi mãi là người cộng sản chân chính…[14]
          Sự kiện Trần Ngọc Danh xảy ra tháng 10-1949, gần kề với chuyến đi của Hồ Chí Minh tới Bắc Kinh và Maxkva đầu năm 1950, nhằm phá vòng vây, tìm kiếm sự công nhận về ngoại giao và sự viện trợ quân sự cho cuộc kháng chiến của Việt Nam, sự kiện đó đã gây cho Hồ Chí Minh không ít phiền toái!
          -Bối cảnh chuyến đi của Hồ Chí Minh đầu năm 1950:
          Như đã nói ở trên, cuộc kháng chiến của Việt Nam diễn ra trong tình thế gần như bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài: ít được thế giới biết đến, không nhận được sự chi viện nhỏ nào, dù chỉ về chính trị-tinh thần. Ngay Đảng cộng sản Pháp lúc đó cũng chưa mặn mà gì với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, vì họ vẫn coi trọng đấu tranh giai cấp, còn đấu tranh giải phóng dân tộc vẫn bị coi là thuộc phạm trù cách mạng tư sản ![15]
Hồ Chí Minh đã làm gì để phá thế bị bao vây đó?
          Đầu năm 1946, Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thư và công hàm chính thức tới Liên Hiệp Quốc và những người đứng đầu Chính phủ 4 nước lớn là Mỹ, Anh, Liên Xô và Trung Hoa Tưởng Giới Thạch, đề nghị 2 điều: can thiệp để giúp chấm dứt cuộc đổ máu đang diễn ra ở Nam Việt Nam và đưa vấn đề Việt Nam ra Liên Hiệp Quốc. Nhưng không nhận được hồi âm nào. Sau này được biết: Liên Xô nhận công hàm, nhưng có bút phê của Thứ trưởng Kozyrev khi đó: “Không trả lời”.
          Sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Hồ Chí Minh quyết định cử 2 phái đoàn thân thiện của Chính phủ ta đi thăm Pháp và Trung Hoa. Phái đoàn đi Paris do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn, phái đoàn đi Trùng Khánh lúc đầu giao cho Cố vấn Vĩnh Thụy, nhưng ông ta không nhận, nên Nghiêm Kế Tổ, người của VNQDĐ, lúc đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, được làm trưởng đoàn. Đến Trùng Khánh, đoàn xin được yết kiến Tưởng, nhưng Tưởng không nhận tiếp phái đoàn một Chính phủ cộng sản,  chỉ  nhận tiếp riêng một mình cựu hoàng Bảo Đại!
          Tiếp theo, Chính phủ ta cho lập 2 Văn phòng thông tin của nước VNDCCH, một ở Paris, một ở Bangkok, để tuyên truyền quốc tế cho cuộc kháng chiến của ta, nhưng hoạt động cũng không mấy hiệu quả. Năm 1947, Hồ Chí Minh cử Phạm Ngọc Thạch, với tư cách đại diện Văn phòng Chủ tịch Hồ Chí Minh,  vượt sông Mê công, sang Pháp gặp M.Thorez và J.Duclos, rồi sang Thụy Sĩ gặp Đại sứ Liên Xô Koulajenkov, đến Ấn Độ vừa tuyên bố độc lập, gặp J.Nerhu,…để thông báo về cuộc kháng chiến anh dũng của Việt Nam, đề nghị giúp đỡ về vật chất và tinh thần,…Nhưng đều không đạt kết quả gì.
          Trong khi đó, giữa năm 1948, Liên Xô lại ra tuyên bố chính thức công nhận Chính phủ Jakarta và lập quan hệ ngoại giao ở cấp lãnh sự! Chính vào đêm 28-5-1948, sau lể thụ phong hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp, về đến nơi nghỉ, Hồ Chí Minh mở radio nghe bản tin đêm, thì sửng sốt nhận được tin này.[16]
          Thu-Đông 1947, ta đánh thắng chiến dịch 2 gọng kìm của Pháp, nhưng xuýt nữa, họ bắt được cơ quan đầu não của ta. Nếu Pháp liên minh được với Tưởng, dưới đánh lên, trên đánh xuống, cuộc kháng chiến của quân dân ta có nguy cơ bị thất bại. Điều đó cho thấy phải tranh thủ cầu hòa với Chính phủ Tưởng Giới Thạch, nhằm trung lập hóa vai trò của họ. Cuối 1948 (hay đầu 1949), một phái đoàn được cử sang Trung Quốc, đến Nam Kinh, Thượng Hải, tất nhiên với “lễ vật” hậu hĩnh. Đến nay, chuyến đi vẫn chưa được giải mã, nên chưa thể nói cụ thể, chỉ biết rằng trong chuyến đi đó, có mang theo một cuốn “Tiểu sử Hồ Chủ tịch” để dịch và xuất bản ở Thượng Hải[17].
          Tại sao cần thiết phải công bố Tiểu sử Hồ Chí Minh vào thời gian này, lại chỉ công bố ở nước ngoài, nhằm mục tiêu gi? Các thế lực chống đối Hồ Chí Minh chỉ nghĩ ra được một điều xuyên tạc tầm thường: Hồ Chí Minh chẳng phải người có đạo đức khiêm tốn gì, tự mình viết TS để ca ngợi mình(?) v.v..Nếu chỉ cần có thế thì Hồ Chí Minh đã có thừa. Sự tôn kính, lòng cảm phục và tin tưởng của nhân dân Việt Nam đối với Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh được hình thành từ cuộc đời bôn ba cách mạng, vào tù ra khám của Người; sau thắng lợi của CM tháng Tám lại được bổ sung thêm bằng những “sáng tác dân gian”, làm cho tên tuổi Hồ Chí Minh đã sớm trở thành huyền thoại, có viết thêm nữa cũng không sánh được !
          Cuốn sách này ra mắt chủ yếu nhằm thực hiện sách lược chính trị đối ngoại. Như đã nói ở trên, vào thời gian này, Hồ Chí Minh đang đứng trước hai làn đạn: các Chính phủ phương Tây (Anh, Mỹ, Pháp, Tưởng,…) coi ông là Cộng sản nên chống lại, còn Quốc tế cộng sản  lại cho ông là đã xa rời học thuyết đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, rơi vào hữu khuynh, dân tộc chủ nghĩa, có vẻ muốn “ve vãn” phưong Tây nên cũng không công nhận! Trước mắt, để tránh hiểm họa, muốn cầu thân với Tưởng, phải làm giảm nghi ngờ của họ. Cuốn “Hồ Chí Minh truyện” do Trương Niệm Thức dịch, xuất bản ở Thượng Hải tháng 6-1949 (chưa giải phóng) là nhằm mục tiêu đó.
          Vì vậy, cuốn truyện của Trương Niệm Thức chủ ý muốn làm cho người đọc thấy Hồ Chí Minh vốn có nhiều mối quan hệ thân tình với Trung Quốc. Mở đầu, cuốn sách đưa ra bài viết của tướng Hoàng Cường - người đã từng du học ở Pháp, có quen biết Nguyễn Ái Quốc, thời kháng Nhật là Tham mưu trưởng Lộ quân thứ 19, sau ngày Nhật đầu hàng, ông vào bắc Việt Nam giải giáp quân Nhật- đã bài viết ca ngợi Hồ Chí Minh: là nhà CM giản dị và nhân hậu, biết nhiều ngoại ngữ, đã có nhiều năm sống ở Trung Quốc, rất thạo tiếng Quảng Đông và cả tiếng phổ thông, đã từng dịch cuốn “Tam Dân chủ nghĩa” của Tôn Dật Tiên ra tiếng Việt,..Tác giả muốn chứng minh rằng VNTNCM đồng chí Hội được tổ chức theo chính cương, đường lối và phương pháp đấu tranh của Tôn Dật Tiên: Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc. Có người hỏi: ông Nguyễn theo CNCS hay theo CN TDTiên, ông trả lời rất khéo: Khổng tử, Jésus, Mác, TDTiên, các vị đó đều có mục tiêu giống nhau là mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại…Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ. Tôi vẫn là tôi ngày trước: một người yêu nước (nhất cá ái quốc giả), v.v..(Những nội dung này không có trong bản in ở Pháp - thay vào đó là bài của Léo Poldès có nội dung cần cho người đọc ở phương Tây, điều này không có trong “Những mẩu chuyện…” lần đầu tiên được xuất bản 1955 ở Hà Nội cũng như các lần tái bản sau).
          Tuy nhiên, tình hình quốc tế đã chuyển biến quá nhanh. Cuối năm 1949, CM Trung Quốc thành công, nước CHND Trung Hoa ra đời, làm nghiêng hẳn cán cân lực lượng về phe xã hội chủ nghĩa. Tháng 10 năm đó, nước CHDC Đức thành lập. Cuộc chiến tranh lạnh đã lên đỉnh cao ở Châu Âu. Ở Châu Á, thắng lợi của cách mạng Trung Quốc khiến Mỹ lo ngại: một số nước ở ĐNÁ có khả năng  ngả theo con đường cộng sản hóa, nếu Pháp thất bại ở Đông Dương. Mỹ thấy đã đến lúc phải nhảy vào can thiệp,…
          Tình hình đó khiến Hồ Chí Minh thấy tự mình phải xuất tướng phá vòng vây, trước tiên là đàm phán với Trung Quốc, sau đó qua trung gian của Trung Quốc để tới Liên Xô. Chuyến đi có 2 thuận lợi: một là quân đội nhân dân Việt Nam vừa lập một chiến công đầy tinh thần quốc tế: phối hợp với giải phóng quân Trung quốc trong chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, giải phóng Long Châu, Khâm Châu, Phòng Thành,…một vùng biên giới sát với Cao Bằng. Chiến công này được Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai,…hết sức ca ngợi, coi đó là một biểu hiện cao cả của chủ nghĩa quốc tế vô sản; hai là chuyến đi lại trùng khớp với cuộc hội đàm Trung - Xô để ký kết Hiệp định hợp tác tương trợ giữa 2 nước vừa bắt đầu tại Maxkva.
          Cuộc đàm phán Trung -Việt diễn ra thuận lợi, những yêu cầu Hồ Chí Minh nêu ra với Trung Quốc đều nhanh chóng được đáp ứng, vì nó gắn liền với lợi ích thiết thân của Trung Quốc. Sau đó, nhờ sự thuyết phục của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đang có mặt tại Maxkva với Staline, Hồ Chí Minh đã được mời sang thăm Liên Xô.
          Nhưng Hồ Chí Minh đã được Staline đón tiếp như thế nào?
          - Hồ Chí Minh đến Maxkva, TƯ Đảng cộng sản Liên Xô mở tiệc chiêu đãi, có mặt đủ cả, riêng Staline tránh mặt, không tiếp. Một, có thể là do bị ràng buộc bởi Hiệp định bất tương xâm đã ký với De Gaulle năm 1944 (có giá trị 20 năm), ông không muốn làm mất lòng Pháp, vì Pháp có vị trí chiến lược quan trọng trong chính sấch đối ngoại của Liên Xô ở châu Âu hơn là Việt Nam. Hai, Staline vốn có thành kiến sẵn với Hồ Chí Minh là hữu khuynh, dân tộc chủ nghĩa, qua những thông tin mà KGB thu lượm được về cuộc tiếp xúc của người Mỹ với Nguyễn Đức Quỳ (Trưởng Văn phòng đại diện của chính phủ ta tại Bangkok) trong năm 1948-49, nhất là qua 2 bức thư tố cáo của Trần Ngọc Danh. Staline rất đa nghi, e rằng đây có thể là một nhân vật “Tito thứ hai”ở châu Á!
          - Với sự kiên trì thuyết phục của Mao và Chu rằng Hồ là nhà ái quốc nhiệt thành đồng thời là người cộng sản, người chiến sĩ quốc tế chân chính, cuối cùng Staline cũng nhận tiếp Hồ Chí Minh, ngay tại phòng làm việc của mình, với sự có mặt đông đủ các nhà lãnh đạo chủ chốt của Liên Xô, phía Trung Quốc có Đại sứ Vương Gia Tường, phía Việt Nam có Trần Đăng Ninh.
Staline mở đầu: Chúng ta là những người bạn, người anh em thân thiết, gặp đồng chi hơi muộn một chút, xin thứ lỗi! Hồ Chí Minh báo cáo tóm tắt tình hình cơ bản về ĐCSĐD, về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam  và đề nghị Liên Xô giúp đỡ,…
Staline phát biểu chậm rãi nhưng rành rọt, đại ý:
   *Tại sao các đồng chí tự ý giải tán Đảng? Đ/c tưởng lừa được chủ nghĩa đế quốc à, chính là đ/c lừa chúng tôi, vì ở xa, không biết thực hư thế nào ( có ý trách là không xin ý kiến).
   *Chính phủ các đ/c là cái chính quyền gì, sao mà lắm nhân sĩ, trí thức, địa chủ, quan lại thế?( ý nói không phải chính quyền công nông).
   *Tại sao đến nay các đ/c không tiến hành CCRĐ? Để đánh thắng đế quốc Pháp, sự chi viện của quốc tế là cần thiết, nhưng phải phát động quần chúng, động viên quần chúng, đem lại lợi ích thiết thân cho họ, đó mới là điểm mấu chốt làm nên thắng lợi. Staline tỏ ý không hài lòng lắm, hỏi: trong 2 cái ghế dân tộc và giai cấp, đ/c ngồi trên cái ghế nào? (có ý phê bình lập trường g/c còn mơ hồ ).
   *Về vấn đề viện trợ cho cuộc kháng chiến của Việt Nam , Staline nói: CM Trung Quốc nay đã thành công, Trung Quốc đã trở thành trung tâm của CM châu Á, từ nay chi viện cho Việt Nam sẽ do Trung Quốc đảm nhiệm, vì sát với Việt Nam . Liên Xô có nhiệm vụ giúp Trung Quốc xây dựng kinh tế, những vũ khí chúng tôi giúp Trung Quốc, nay kết thúc chiến tranh, cái gì không dùng nữa, hợp với Việt Nam, thì có thể chuyển cho Việt Nam (như một sự phân công quốc tế); đồng thời Staline cũng nhắc nhở Việt Nam phải ra sức học tập kinh nghiệm của Trung Quốc!.[18]
          Tóm lại, Liên Xô không muốn dính vào vấn đề Việt Nam ở thời điểm này. Cuộc đón tiếp được coi là hờ hững[19]. Nhưng thắng lợi lớn nhất của chuyến đi phá vỡ vòng vây đã đạt được, đó là sự công nhận chính thức về ngoại giao đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Trung Quốc ngày 18-1, Liên Xô ngày 30-1-1950, sau đó là các nước DCND còn lại, cả Nam Tư. Đảng cộng sản Việt Nam đã tái hòa nhập với phong trào cộng sản quốc tế. Cần thừa nhận rằng thành công này có sự đóng góp quan trọng của Đảng cộng sản Trung Quốc, bởi nếu không phá được vòng vây này, chưa rõ CM Việt Nam sẽ lâm vào hoàn cảnh khó khăn như thế nảo?
Kết luận
 
Trình bày lại những điều này để hiểu được những hệ lụy phức tạp mà chúng ta phải gánh chịu về sau. Rất khó có thể giữ được hoàn toàn độc lập, tự chủ trong hoàn cảnh ấy. Sự viện trợ về quân sự đi liền với áp đặt về chính trị. Hồ Chí Minh chỉ có thể trì hoãn chứ không thể từ chối. Mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế là một song đề phức tạp của phong trào cộng sản thế giới, không phải lúc nào nó cũng thống nhất được với nhau, giữa nói và làm, nhất là ở những Đảng lớn. Chính người cộng sản - ái quốc Hồ Chí Minh, trong vai trò “huyền thoại kép” này, đã giúp ông đạt được những thành tựu diệu kỳ cho đất nước, nhưng nó cũng gây cho cá nhân ông bao hệ lụy cay đắng phải gánh chịu cho đến ngày nay. Sở dĩ ông vượt qua được và thành công chính là nhờ khả năng vận động uyển chuyển giữa hai cực đó, nghĩa là biết điều chỉnh và thỏa hiệp nhất định với thực tế cay nghiệt của hoàn cảnh để tồn tại và phát triển, vì lợi ích của dân tộc và lợi ich của cách mạng. Có lẽ vì vậy mà ông được thừa nhận rộng rãi ở phương Tây “là một chính trị gia và một nhà ngoại giao tài giỏi, một người đã để lại cho đất nước mình một khuôn mẫu về  xây dựng liên minh và thỏa hiệp mà mọi quốc gia đương thời đều đánh giá cao”[20]. Đó là một di sản tinh thần quý báu Hồ Chí Minh để lại mà chúng ta phải thấm nhuần và phát huy thật tốt ở bối cảnh chính trị thế giới đang biến chuyển cực kỳ phức tạp và lắt léo hiện nay./.
                   

 

[1] J. Sainteny: Face à Ho Chi Minh , Seghers, Paris, 1970, tr.33
[2] V.I.Lênin: Toàn tập, Tiến bộ, M., 1978, tâp 41, các trang: 292, 204, 293
[3] Dẫn theo: Tài liệu tham khảo lịch sử cận đại Việt Nam, BNC Văn-Sử-Địa xb, 1956, tập 6, tr.187
[4] Văn kiện Đảng TT, CTQG xb 1998, t. 2, tr. 110-112
[5] Tài liệu lưu trữ tại Phông QTCS, nay là Trung tâm  bảo tồn và nghiên cứu các tài liệu lịch sử hiện đại Nga,viết tắt là R.C. ký hiệu  495.154.462.
[6] Văn kiện Đảng TT, t.4, tr. 367
[7] Bài đăng trên Tạp chí Bônsêvích (Cahier du Bolchévisme) số 8, tháng 12-1934. Dẫn lại theo Daniel Hemery : Ho Chi Minh , De l’Indochine au Viet Nam , p. 73
[8] Tư liệu lưu tại R.C., ký hiệu 495.201. hồ sơ 1, các tr. 154-155-155a. Toàn văn bức thư đã được dịch va in trong sách Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông  1931-1933, CTQG, 2004, tr.239
[9] Văn kiện Đảng TT, t. 5, tr. 204
[10] V. Vasilieva: Thư gửi các đồng chi Đông Dương, R.C. ký hiệu 495.154.585, tr.11
[11] Hồ Chí Minh TT, T.3, tr. 90
[12] Stein Tonnesson, trong cuốn Vietnam 1946: How the war began (Việt Nam 1946: Chiến tranh đã khởi đầu như thế nào), NXB ĐH, California, Berkeley, 2010, đã đề cập đến khả năng đảo chính này, nhưng theo ông, Quốc dân đảng Trung Hoa không  thực hiện mà ép bọn tay chân phải tham gia CP liên hiệp. Nếu họ cũng hành động như người Mỹ với CP thiên tả ở Seoul, như người Anh với CP ở Jakarta,…thì CP Hồ Chí Minh  rất ít cơ hội tồn tại. Thay vì cảm ơn, Việt Nam lại chê trách họ (!). Đây là một ngộ nhận của nhà sử học. Điều cần nói là Hà nội năm 1946 khác xa với Seoul và Jakarta cùng thời điểm ấy.Trung Hoa QDĐ cũng không có thế mạnh như Anh, Mỹ. Sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và ý chi ngoan cường đấu tranh để bảo vệ nền Độc lập của nhân dân Việt Nam như thế nào, những người Trg Hoa QDĐ có mặt ở Hà Nội đã nhận thấy, họ rất muốn làm mà không dám làm vì đang phải lo đối phó với thất bại trong cuộc nội chiến. Đáng tiếc, đó lại là điều mà ô.. S.Tonnesson chưa nhận thấy.
[13] Có thể số thắc mắc không it, nên đến Hội nghị cán bộ TƯ lần 5 (từ 8 đến 16-8-1948, thay mặt Ban Thường vụ TƯ, Lê Đức Thọ đã phải giải thích về sự kiện này. Xem Văn kiện Đảng TT, t.9, tr. 316-317.
[14] Xem thêm: Christopher E. Goscha “Tai bay vạ gió trong ngoại giao? Những nỗi chuân chuyên của Việt Nam trên đường hội nhập phong trào Quốc tế cộng sản 1945- 1950”.Đông Hiến dịch. Talawas 13-02-2007.
[15] M. Thorez, TBT ĐCS Pháp, năm 1946 đang làm Phó Thủ tướng trong  CP liên minh với Đảng Xã hội, đã nói với Đô đốc D’Argenlieu rằng: “Đô đốc ạ….tất nhiên tôi momg rằng mọi sự giải quyết êm thấm với Việt Minh, nhưng tóm lại-với một giọng chắc nịch- màu cờ của chúng ta trên hết! Vậy nếu phải đánh thì cứ đánh, đánh cho mạnh!(Nguyên văn: “Amiral,…je souhaite naturellement que tout se règle aux mieux avec le Vietminh, mais enfin- d’un ton convaincu- nos couleurs avant tout! Et donc s’il faut cogner, cognez et cognez dur’. ( Chronique d’Indochine 1945-1947 của A. Thierry D’Argenlieu, nxb Albin Michel, p. 168).
[16] Trong “Nhật ký của một bộ trương”, ông Lê Văn Hiến đã ghi lại cảm xúc vô cùng cay đắng, khó hiểu của mình vào giờ phút đó: Tại sao Staline có thể công nhận một CP tư sản mà CP Hồ Chí Minh do ĐCS lãnh đạo lại không được ông đoái hoài?
[17] Cũng thời gian này,  1 cuốn TS tương tự cũng đươc xuất bản bằng tiếng Việt ở Paris, đề tên tác giả là Nghị sĩ Trần Ngọc Danh, do Chi hội Liên Việt tại Pháp xuất bản năm 1949.
[18] Theo Trương Quảng Hoa: “Ghi chép bí mật về quyết sách giúp Việt Nam chống Pháp”, đăng trên T/c Viêm hoàng xuân thu, số 10 năm 1995.
[19] Trong cuộc tiếp, nhân trên bàn có cuốn họa báo “Liên Xô trên công trường”, có ảnh Staline, Hồ Chí Minh bèn xin Staline một chữ ký để làm kỷ niệm. Staline ký tặng rồi sau đó sai KGB bí mật lấy lại. Điều này làm cho Hồ Chí Minh rất bức xúc: “Làm sao lại có thể có chuyện đó giữa những đ/c cộng sản với nhau”?.
[20] Sophie Quinn-Judge: “Ho Chi Minh- The Missing Years”. University of California Press Berkeley Los Angeles, p.
256-257.

Theo Viet-Studies.info

Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011

Quà xuân và thú chơi văn hoá


DANH NHÂN VIỆT. Cụ Hữu Ngọc là nhà văn hoá lớn, tác giả của bộ sách "Lãng du trong văn hoá Việt Nam" dày 1050 trang do Nhà Xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2007. Bản tiếng Anh Wandering through Vietnamese culture đã được tặng Giải Vàng sách Việt Nam 2006;Cụ là người mà Trần Đăng Khoa gọi là "con khủng long kỳ vĩ" trong "Vài nét Hữu Ngọc" và Bruno - Nhà ngoại giao Bỉ khâm phục thốt lên: " Tôi bàng hoàng vì chỉ nửa giờ gặp ông Hữu Ngọc , tôi hiểu văn hoá Việt Nam bằng cả bấy lâu tôi đọc bao nhiêu cuốn sách và tìm hiểu nền văn hoá của dân tộc ông. Tôi vô cùng cảm ơn ông" (sách đã dẫn). "Từ những món quà xuân của Hữu Ngọc" là bài viết của Vân Long đăng trên báo An ninh Thế Giới giúp chúng ta một góc nhìn để đọc và suy ngẫm về quà xuân và thú chơi văn hoá. (HK)


Từ những món quà xuân của Hữu Ngọc


Vân Long

Mỗi khi xuân về, tết đến, chúng ta hay nghĩ đến những người thân nơi xa, thường chọn một bưu thiếp ưng ý, viết lời chúc thân ái, nồng nhiệt, tính ngày gửi để bạn nhận được đúng dịp tết. Riêng nhà văn hóa Hữu Ngọc, năm nào tôi cũng nhận được một tặng phẩm độc đáo do cụ nghĩ ra, thường bao hàm một ý nghĩa nhân sinh, văn hóa nào đó.

Cũng phải nói thêm về căn cốt Thăng Long - Hà Nội của cụ Hữu Ngọc. Quê gốc của cụ ở xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Nhưng ông nội của cụ đã rời Kinh Bắc đến sinh sống tại phố Hàng Gai thuộc phường Cổ Vũ, đã từng làm tiên chỉ phường này! Do vậy, Hữu Ngọc được sinh ra và lớn lên ở đây, một phố cổ của Hà Nội. Phố Hàng Gai có nghề truyền thống đặc biệt thanh cao.

Trước hết là nghề bán sách Hán Nôm, kể cả bán buôn cho các tỉnh. Thợ khắc mộc bản in sách Hán Nôm người làng Liễu Chàng, Hải Dương đều trọ quanh đây (phố Tô Tịch hay phố Hàng Mành). Hồi còn thi Nho học, các sĩ tử hay lượn quanh các cửa hàng sách mua giấy bút, còn là cớ để ngắm các cô bán hàng.

Con gái Hàng Gai nổi tiếng nết na, có học và thanh lịch. Họ thường thuộc các gia đình quan lại về hưu hoặc nhà nho bất đắc chí. Khi chuyển sang học chữ Quốc ngữ, từ in khắc gỗ sang in máy, Hàng Gai lại thành cái nôi của nhiều tờ báo: Hữu Thanh, Khai Hóa, Khoa học, nhất là báo Đông Pháp là báo có rất nhiều độc giả.

Cụ thân sinh của Hữu Ngọc bỏ Nho chuyển sang Tây học, làm thầy ký Sở Máy đèn. Vậy là đã ba đời gia đình cụ lập nghiệp ở Thăng Long - Hà Nội (tam đại thành tổ). Cụ lại được sinh ra, hít thở không gian văn hóa từ cổ đến kim của khu trung tâm Hà Nội này. Phải chăng cụ đã hấp thu nền văn hóa Thăng Long ngay từ lúc sơ sinh, trong mỗi tế bào?

Trở lại với những món quà xuân cụ Hữu Ngọc tự chế tác ra để tặng bạn bè. Tôi chỉ đơn cử ba cái tết vừa qua:

Tết Đinh Hợi (2007), cụ viết chữ Duyên (chữ Hán) vào lòng đĩa, có phác họa một cụm đào, rồi thuê thợ gốm nung vài chục chiếc đĩa (có móc gắn phía sau để treo tường) men sứ trắng, chữ xanh, hoa màu phớt đào làm quà xuân tặng bạn. Đó là ngụ ý chúc bạn năm tới sẽ gặp một cơ duyên nào đó, mà đôi khi nhờ nó, có thể tạo bước ngoặt, hoặc một thăng tiến, thăng hoa trong sự nghiệp, trong sáng tạo.
Chữ Duyên của cụ Ngọc nhắc ta nhớ đến luận điểm độc đáo của cụ: Cái ngẫu nhiên chi phối 70% cuộc đời ta, cụ không tin bói toán, tử vi mà tin cái ngẫu nhiên khoa học. Vậy là tài sức, ý chí cá nhân (nhân định) chỉ chiếm 30% thôi sao? Trong khi ai cũng nghĩ một người như cụ, phải đến 70% là do ý chí, do rèn luyện cả đời mà làm nên!

Thoạt nghĩ thì như vậy, nhưng khi xem lại cuốn phim cuộc đời nhà văn hóa nổi tiếng lão thực này, mới thấy: Ước mơ hồi trẻ (lúc đang là học sinh Trường Bưởi, 18 tuổi, thời Pháp thuộc) của Hữu Ngọc là: dạy học ở một tỉnh miền núi, dựng một căn nhà nho nhỏ bên bờ suối, rồi có thể yêu và lấy một cô gái miền núi…

Hóa ra cái lãng mạn "Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối " không chỉ là riêng Suối Mơ của Văn Cao, mà là "bệnh thời đại" của một số con nhà nền nếp, có học, chán ghét chốn phồn hoa, ô trọc, muốn giữ được thanh cao mà chưa tìm ra lối thoát.

Và cơ duyên lớn của đời họ là gặp được Cách mạng tháng Tám giũ bỏ ách thống trị thực dân, để Hữu Ngọc đang từ người thích sống cô đơn yên ả trở thành người cả đời đi bắc các nhịp cầu văn hóa, làm bạn với cả thế giới (cụ từng làm Giám đốc NXB Thế giới, xuất nhập khẩu các nền văn hóa qua hoạt động dịch, biên soạn, và xuất bản). Luận điểm về chữ Duyên ít ra là đúng hoàn toàn với cuộc đời cụ khi đã gặp "cơ duyên" lớn: Cách mạng!

Quà xuân năm Mậu Tý (2008), cụ đưa in bài thơ (chữ Hán) "Xuân hiểu" (Buổi sớm xuân) của Mạnh Hạo Nhiên lên góc tờ bìa rộng, gập đôi thành khổ A4. Choán cả tờ bìa rộng là bức vẽ theo lối Quốc họa Trung Quốc hình một nhành mai có đôi chim đang nép vào nhau.

Bài thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường (thế kỷ VIII) do Tương Như dịch, cụ chuyển ngữ sang tiếng Anh và tiếng Pháp, in bản phụ lục kèm theo, còn bức tranh - thơ thì để nguyên chữ Hán, hẳn là bút tích một danh nho nào, nên cũng trở thành tiết họa khá hài hòa của bức tranh-thơ!

Xuân hiểu

Xuân miên bất giác hiểu
Xứ xứ văn đề điểu
Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu.

(Mạnh Hạo Nhiên)

Tương Như dịch:

Giấc xuân, sáng chẳng biết
Khắp nơi chim ríu rít
Đêm nghe tiếng gió mưa
Hoa rụng nhiều hay ít.

Cụ Hữu Ngọc bình rằng bài thơ có cái tứ hiện đại về nhân sinh, có tâm lý thầm kín của cái tôi, của dòng thời gian và dòng tâm không ngừng chảy, dĩ vãng đan xen hiện tại, cái vui lại đượm nỗi buồn của phận người.

Tết năm 2009, cụ lại có quà mới, gặp ai đáng tặng là cụ rút ngay bút ra đề tặng vào những ngày đầu xuân, như quà mừng tuổi. Đó là một tấm bìa lớn gấp đôi thành 4 trang khổ A4. Bìa 1 là chân dung nhà "lữ hành" Hữu Ngọc khổ nhỏ, dưới in sẵn đôi chữ Mừng Xuân và khoảng trống để đề tặng, dưới cùng là dấu triện son riêng của cụ và chữ ký.

Gọi cụ là "lữ hành", bởi cụ hay đi, chân dung lại chụp lúc cụ đang đi, như hằng ngày cụ vẫn tạo điều kiện để đi bộ được nhiều nhất, túi dết khoác qua vai, chiếc mũ vải mềm quen thuộc. Nền ảnh ló ra đuôi chiếc ôtô ca và hàng rào cây xanh, tỏ ra cụ đang băng qua đại lộ.

Chú thích bức tranh nằm ở bìa 2: Ngày xửa, ngày xưa… (Tranh Tết Phạm Tăng - Paris 1973, tha hương vẽ tưởng tượng). Những bạn chưa biết Phạm Tăng, sẽ được cụ Ngọc giới thiệu khái quát:

Phạm Tăng học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Yết Kiêu, đi kháng chiến ở Nam Định. Đến cải cách ruộng đất bị dính thành phần, chạy vào Sài Gòn. Ở đây, ông vẽ và viết báo tự do, chửi Ngô Đình Diệm, bị bắt giam. Sau có người quen lo lót với Trần Kim Tuyến, trùm mật vụ, được thả nhưng buộc phải tránh mặt tại Sài Gòn. Ông sang Italia, lần lượt học hết các bộ môn của nghệ thuật tạo hình, trở thành họa sĩ nổi tiếng ở nước ngoài, được giải nhất hội họa của UNESCO.

Bìa 3: Ảnh chụp bức tranh sơn dầu của Phạm Tăng, cảnh một đôi vợ chồng nông dân trong giờ nghỉ. Chồng mặc quần cộc, ngả lưng vào con trâu đang nằm lim dim thụ hưởng phút thư giãn, ông chủ của nó cũng đang lim dim rít điếu thuốc lào, vồng ngực và bắp tay cuồn cuộn sinh lực.

Cô vợ chỉ mặc chiếc yếm trắng, quần xắn trễ nải trên đầu gối, thắt lưng màu hoa đào, đang cười mãn nguyện ngắm chồng và đứa con trai ngồi trên lưng trâu, hớn hở khoe con cào cào… Đối với cô vợ nông dân, trước mắt cô là toàn bộ cơ nghiệp (con trâu chỉ là… đầu cơ nghiệp!), là hiện tại bình yên, là tương lai đang lớn dần…

Bìa 4 là bút tích và hai câu chữ Hán của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, nhà văn hóa nổi tiếng của ta thế kỷ XX:

Thỉnh nhĩ tu du vong thế sự
Tùng lâm tuyết lạc tự mai hoa.

(Xin bạn phút giây quên thế sự
Rừng thông tuyết rụng tựa hoa mai).

Tiếp đó là bản tiếng Pháp, tiếng Anh do Hữu Ngọc chuyển ngữ, bởi số bạn cụ gặp hằng ngày là nhà báo, nhà văn nước ngoài nhiều hơn bạn Việt, bởi cụ làm báo tiếng Pháp, tiếng Anh, làm Chủ tịch cho hai quỹ văn hóa nước ngoài hoạt động ở Việt Nam. Đôi câu thơ này cũng có sự tích của nó:

Hồi Nguyễn Khắc Viện hoạt động và chữa bệnh ở Pháp, sau 6, 7 lần bị mổ, bị cắt đến phổi và mấy cái xương sườn, ông vẫn hoạt động trong phong trào yêu nước của người Việt ở Pháp và nghiên cứu văn hóa. Một giáo sư Trung Quốc tìm đến tham vấn ông. Ông này có nhiều mối lo về thế sự.

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện muốn giải tỏa những ức chế cho bạn, trong khi đưa bạn đi dạo rừng thông, đã ứng khẩu hai câu thơ trên. Cụ Hữu Ngọc thường nói: "Đó là thơ chống stress của ông Viện!". Quả nhiên là với ý chí rèn luyện sức khỏe (phương pháp luyện thở Nguyễn Khắc Viện) và tinh thần lạc quan của ông, Nguyễn Khắc Viện đã làm giới y học Pháp, Việt phải kinh ngạc về tuổi thọ, ông sống lâu không thua gì một người khỏe mạnh!

Không phải ai trong chúng ta muốn là có thể học được phong cách giao lưu đầy tinh thần nhân văn, nhân ái của những người… xưa nay quá hiếm như hai nhà văn hóa Hữu Ngọc và Nguyễn Khắc Viện. Nhưng ta vẫn cần biết để tránh những hành động, phong cách trái ngược với nét đẹp văn hóa của cha ông trong dịp đầu xuân, tránh làm tổn hại những ngày xuân trong sáng của bạn!

Ngày 22/12/2010 vừa qua là sinh nhật thứ 92 của cụ Hữu Ngọc, người có duyên với bộ đội, từng làm Trưởng ban Giáo dục tù hàng binh Âu - Phi hồi kháng chiến chống Pháp. Làm việc này, cụ Hữu Ngọc đã ứng dụng sách lược "tâm công" của bậc tiền nhân Nguyễn Trãi, tiến công bằng tâm lý, hình như chưa một nước nào làm giống thế. Có thể làm một luận án tiến sĩ về vấn đề này!

Cụ Ngọc nghĩ thế, nhưng cụ không làm, cụ bận làm mấy việc lớn hơn: Đến năm nay, cụ đã hoàn thành 3 cuốn sách cơ bản và hết sức đa dạng về nền văn hóa Việt bằng 3 thứ tiếng:

- Wandering through Vietnamese culture (Lang thang trong văn hóa Việt Nam).
- À la découverte de la culture Vietnamienne (Khám phá văn hóa Việt Nam).
- Lãng du trong văn hóa Việt Nam (NXB Thế giới)

Mỗi cuốn đều trên 1.000 trang, có thể nói đây là một "tập đại thành" về văn hóa Việt của cụ Hữu Ngọc, người mà sự nghiệp cả đời là quảng bá văn hóa Việt Nam cho thế giới. Một mặt khác, bè bạn các nước lại cho cụ là người nối nhịp cầu cho các nền văn hóa thế giới. Nhờ những cuốn biên soạn công phu của cụ mà người đọc hiểu thêm các nền văn hóa Pháp, Nhật, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch… Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật thứ 92 và dịp mừng năm mới, chúng ta chúc cụ gặp một "cơ duyên" mới trong năm 2011.




Vài nét Hữu Ngọc

Trần Đăng Khoa

Nhiều lúc ngắm Hữu Ngọc, không hiểu sao, tôi cứ có cái cảm giác rợn ngợp như đang đứng trước một con khổng long vừa hiện hình người. Hữu Ngọc quả là một con khổng long kỳ vĩ.

Ông sinh năm 1918. Khi đó, bố mẹ tôi còn chưa ra đời. Nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng, thuộc lứa tuổi đàn em của ông, giờ cũng đã thành người ở cõi thương nhớ. Vậy mà Hữu Ngọc vẫn dẻo dai “sánh bước cùng thời đại”, hay nói như ngôn ngữ của ông, “cứ lang thang như một áng mây giời”. Hàng ngày, Hữu Ngọc vẫn cậm cạch cuốc bộ từ nhà riêng ở khu Vạn Bảo đến cơ quan 46 Trần Hưng Đạo. Chặng đường dài hơn chục cây số đi về. Hữu Ngọc là Chủ tịch Quỹ Văn hoá Thuỵ Điển và có thời là Chủ tịch cả Quỹ Văn hoá Đan Mạch. Chỉ tính riêng ở quỹ Thuỵ Điển mà tôi được biết, trong 5 năm hoạt động, ông đã cùng các cộng sự, tham mưu giúp Thuỵ Điển tài trợ cho hàng ngàn công trình, hạng mục, khôi phục lại nhiều di sản văn hoá quý giá mà bấy lâu chìm lấp trong cỏ dại. Tôi đã nhiều lần đi thực địa cơ sở cùng Hữu Ngọc. “Đánh đu” với Hữu Ngọc mệt lắm. Nói như Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Thị Thành, đi với bác Ngọc thì no kiến thức, nhưng đói bụng và bải hoải toàn thân. Không thể “đấu vật” với bác Ngọc được!

Kể cũng lạ. Tôi không ngờ một ông cụ ngót chín mươi tuổi mà vẫn leo núi thoăn thoắt như một con sóc rừng. Hữu Ngọc dường như không có tuổi già. Ông như một bộ cốt đã hoá thạch. Thời gian dường như không thể “đánh” được vào con người trần gian này. Không biết bí quyết nào đã cho ông cụ một sức lực dẻo dai đến thế? Có lẽ một phần là chất lượng sống. Mà sống, với Hữu Ngọc, là lao động. Lao động không ngừng. Nói như Xuân Diệu: “Mắt luôn lục lọi. óc luôn kiếm tìm”. Hữu Ngọc lúc nào cũng cuồn cuộn như một dòng sông luôn chảy xiết. Tôi có cảm giác chỉ một tích tắc dừng lại, có lẽ cái cơ thể đã quánh lại như một bộ cốt sống kia sẽ tan rữa ra như cát bụi.

Nhưng Hữu Ngọc không thể tan rữa. Ông luôn phát triển trong thế vận động. Là người giỏi nhiều ngoại ngữ, am tường nhiều nền văn hoá nhân loại, lại đi nhiều, đọc nhiều, Hữu Ngọc là người Việt Nam, nhưng ông cũng là công dân của cả một thế giới rộng lớn. Ông kết hợp và tận dụng được cùng một lúc cả hai “nguồn lực” đó. Đây chính là “bí kíp” giúp Hữu Ngọc hơn người. Bằng con mắt của một người thuần Việt, ông nắm bắt được những vẻ đẹp của những nền văn minh nhân loại. Và bằng con mắt của nhân loại, ông phát hiện ra được những tinh chất đặc sắc của Việt Nam mà nhiều khi người Việt ta ở trong nước lại không thể nhìn ra. Tất cả những năng lực ấy, Hữu Ngọc đều bộc lộ qua hai phương tiện: Viết và Nói bằng một tư duy rất hiện đại. Nghĩa là chữ ít, nhưng lượng thông tin lại nhiều. Đó là loại văn chương điện tín. Mỗi chữ là một ký tự thông tin. Một lối văn mộc, không son phấn, văn hoa. Ông thường loại bỏ những giao đãi rườm rà, tước hết những “phụ tùng” không cần thiết, chỉ còn lại cái cốt lõi mà không thể giản lược thêm được nữa, để chuyển tải tới bạn đọc những gì mà ông muốn bộc lộ, chia sẻ. Bởi thế, các tập sách của Hữu Ngọc thường rất dày, có cuốn đến cả ngàn trang khổ lớn, nhưng người đọc vẫn không thấy dài. Nhiều bài viết chỉ phong phanh mấy trăm chữ nhưng lượng thông tin lại nhiều hơn cả một công trình nghiên cứu nghiên cứu nhiều chữ mà ít nghĩa của một nhà văn hoá nào đó. Có lẽ cũng vì thế, Tiến sĩ Nghệ thuật Đức Gunter Giesenfeld, đã gọi ông là “bậc thầy của những bài ký ngắn”.

Đấy là một nhận xét khá tinh tế.

Cũng bằng lối viết cô đọng, bàn về tính cách người Mỹ, Hữu Ngọc không cần bình luận gì cả. Ông chỉ dẫn lời Giáo sư Gari Athen, chuyên gia trường Đại học Iowa. Cứ như lời vị Giáo sư này, thì ở nhiều nước, đặc biệt là các nước Châu Á, người nói thường lựa chiều người nghe. Thích gì thì nói nấy. Với người Mỹ, như thế là bất lương, là lừa đảo, vì giá trị cao nhất là thật giả, cao hơn cả lễ phép và xã giao. Khi thương lượng để ký hợp đồng, người Mỹ không quanh co, khéo léo, mà đi thẳng vào những điều khoản cam kết. Đi đường, người Mỹ hỏi: “ Đến làng X gần nhất bao xa?” Nhiều khi để khách đi đường đỡ mệt, đỡ ngại, người kia có thể đáp: “Ồ, ngay dưới kia thôi!” Người khách Mỹ lái xe đi cả đêm, chửi rủa người chỉ đường nói dối. Nếu người Mỹ được hỏi đường, họ sẽ trả lời ngay: ”Còn xa đấy. Đến ba chục cây đấy!” Khách sẽ thất vọng, mệt mỏi, nhưng biết được sự thật.

Bàn về các làng quê truyền thống Việt Nam, Hữu Ngọc cho rằng, do chiến tranh, do kinh tế thị trường, lại ảnh hưởng văn hoá phương Tây, các làng truyền thống của Việt Nam, hầu hết đã ít nhiều bị “ô nhiễm” văn hoá. Có chăng, chỉ còn mỗi làng Đường Lâm. Cũng theo Hữu Ngọc, Đường Lâm có thể xem là mẫu làng truyền thống Việt Nam duy nhất còn lại khá hoàn hảo, ít bị ô nhiễm nhất. Nhà nghiên cứu văn hoá Thái Lan Thainatis nói với Hữu Ngọc rằng: “Cần thiết phải cảnh báo để người dân nhận thức về di sản văn hoá của mình trước khi nó bị lãng quên và bị thời gian huỷ diệt. Đường Lâm vừa là thắng cảnh đẹp, vừa được tạo nên bởi chính bàn tay của người Việt Nam - đó chính là văn hoá văn minh của nước Việt Nam có một lịch sử lâu dài... Cảnh đẹp Hạ Long là do thiên nhiên tạo nên, không giống như Đường Lâm chỉ do con người tạo dựng”. Cảnh quan Đường Lâm dường như vẫn giữ được vẻ xưa. Nói như hoạ sĩ Phan Kế An, trước kia theo tục lệ làng, không ai được xây dựng nhà cao hơn mái đình. Tuy lệ ấy đã nhạt đi, có vài ba nhà cao tầng được xây nhưng không đáng kể. Cái chính ít xây là do dân nghèo, nông nghiệp là chính, buôn bán ít, nghề phụ chỉ có một số nghề truyền thống: Giò chả, nuôi gà, làm kẹo bột, chè lam, bánh bỏng, dệt vải và làm tương. Đưa ra mấy thông tin như thế, rồi Hữu Ngọc bình một câu sắc lẻm mà không kém phần chua xót. May quá! Không ngờ chính “cái nghèo đã cứu vớt được một di sản Văn hoá”.

Không ít người đã đi Côn Minh bằng đường xe lửa. Nhưng không mấy ai để ý đến con đường sắt này. Trong một bài viết rất ngắn về Lào Cai, mảnh đất biên cương nơi địa đầu tổ quốc, Hữu Ngọc cho ta biết: “Đường xe lửa Lao Cai - Côn Minh, hoàn thành năm 1910, mà Thực dân Pháp khoe là một kỳ công kỹ thuật và một thắng cảnh du lịch: “Đây là một trong những đường xe lửa ngoạn mục nhất và hiểm trở nhất Châu Á. Nó băng qua những quang cảnh đa dạng, khi thì đi sâu vào rừng nhiệt đới bao la, khi thì trèo những ngọn núi cheo leo, khi thì uốn khúc ở bên đáy vực thẳm” (Sách hướng dẫn du lịch Madrolle 1932 Paris). Nếu chỉ dừng lại như thế, đoạn văn chẳng ấn tượng gì, cũng không có giá trị gì ngoài một chi tiết thông tin về năm ra đời của con đường sắt. Nhưng Hữu Ngọc đã đẩy lên một nấc nữa: “Có điều cuốn sách này không nói là xây dựng tuyến đường này, công ty Xe lửa Vân Nam của Pháp đã làm chết năm vạn “cu li” Trung Quốc và Việt Nam”. Và thế là ngay lập tức, ta sẽ nhìn con đường sắt ấy bằng một con mắt khác.

Cũng đề cập đến mảnh đất địa đầu Tổ quốc này, Hữu Ngọc còn bàn đến một địa danh với mấy tình tiết khá thú vị. Cũng theo lời Hữu Ngọc, thị xã Lào Cai, theo nhân dân kể lại thì địa danh Cốc Lếu cũng mang ý nghĩa bảo tồn văn hoá Việt: Cốc Lếu có nghĩa là gốc gạo. Đồn rằng theo lệnh Minh Mạng, người Việt ở đâu đều phải trồng cây gạo để đánh dấu lãnh thổ. Hoá ra thời xưa, cha ông ta đã cắm mốc lãnh thổ bằng...cây.

Ngoài những trang viết, Hữu Ngọc còn có nhiều cuộc giao lưu quốc tế. Tôi cũng đã nhiều lần ngồi dự những cuộc gặp gỡ của ông. Những lúc ấy, Hữu Ngọc rất linh hoạt, khi nói tiếng Anh. Lúc chuyển tiếng Pháp, lúc lại quặt sang tiếng Đức. Ai hỏi ông bằng tiếng nước nào thì ông trả lời bằng tiếng nước đó. Hữu Ngọc có khả năng thôi miên người nghe bằng khối lượng kiến thức khá uyên bác của mình. Chúng ta hãy nghe chính những khán giả của ông bộc lộ:

“Xin vô cùng đa tạ bài nói tuyệt vời của ông Hữu Ngọc ngày hôm qua ở Trung tâm văn hoá Nhật Hawii. Tất cả chúng tôi đều bị cuốn hút nghe ông kể về dĩ vãng và hiện tại ở Việt Nam” (Paul Rehob Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Mỹ ở bang Hawaii - Mỹ)


“Bài thuyêt trình của ông Hữu Ngọc thực là hoàn hảo. Có một thành viên trẻ của đoàn chúng tôi còn bảo phần của ông là điểm hay nhât của cả chương trình nói chung. Bản thân tôi thấy ông Hữu Ngọc sử dụng kỹ năng sư phạm hiện đại rất điêu luyện cho vốn hiểu biết sâu sắc của mình. Tôi ước ao giá được nghe bản thuyết trình này sớm hơn, khi tôi bắt đầu công tác ở Hà Nội. Một bài thuyết trình thật sáng sủa” (Bjorn Lasson, Phụ trách đoàn 30 chuyên gia và nhà doanh nghiệp Thuỵ Điển trong chuyến thăm Việt Nam)

“Đối với nhà trí thức Việt Nam ưu tú này - Ông Hữu Ngọc – ngôn ngữ của chúng ta, di sản nghệ thuật của chúng ta, toàn thể nền văn hoá của chúng ta, là bộ phận của nền văn hoá riêng của ông, bên cạnh nền văn hoá dân tộc, gắn chặt nhau và cùng toả sáng” (Charles Foruniau – Tiến sĩ sử học Pháp- Hội trưởng Hội Pháp Việt hữu nghị)


“Ông Hữu Ngọc quả là một người phi thường - điểm nổi bật nhất ở Hội nghị là nghe ông Hữu Ngọc nói chuyện”


“Hay đến sửng sốt”

“Hữu Ngọc gây ấn tượng mạnh trong tôi. Rát khiêm tốn! Rất thông minh! Rất khoan dung!”


“Tôi bàng hoàng vì chỉ nửa giờ gặp ông Hữu Ngọc, tôi hiểu văn hoá Việt Nam bằng cả bấy lâu tôi đọc bao nhiêu cuốn sách và tìm hiểu nền văn hoá của dân tộc ông. Tôi vô cùng cảm ơn ông” (Bruno- Nhà ngoại giao Bỉ)

Ta có thể còn gặp rất nhiều những tiếng reo vui như thế của bạn bè quốc tế trong các trang báo chí nước ngoài. Tôi cũng muốn nói thêm một điều gì đó về ông. Nhưng rồi tôi lại im lặng. Khẳng định điều gì về ông bây giờ, dường như là ...quá sớm. Bởi Hữu Ngọc đang sung sức. Ông vẫn đang đi. Trước mặt tôi vẫn thấp thoáng tấm lưng ông. Tấm lưng lầm lụi trong gió bụi...

Hà Nội 25-8-2006

TĐK

Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011

Đường sống Tonstoi - Nguyên Ngọc giới thiệu

TT - Đường sống - văn thư nghị luận chọn lọc của Lev Tolstoi do Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành - cuốn sách “khổng lồ” theo nhiều nghĩa, dày đến 1.180 trang, là một cuốn sách mà “ai cũng nên đọc và trí thức bắt buộc phải đọc” - nhà văn Nguyên Ngọc nhận định.


Nhà văn Nguyên Ngọc nói về Tolstoi và tác phẩm Đường sống: “Càng đọc càng thấy ông quá lớn so với những gì ta đã biết” - Ảnh: Vy An

Ông nói: “Chúng ta ai cũng biết đến và khâm phục Tolstoi với tư cách một văn hào vĩ đại, nhưng ít ai biết ông còn là một nhà tư tưởng vĩ đại không kém, thậm chí hơn thế. Không chỉ ở Việt Nam, trên thế giới mà ngay ở Nga, đã một thời gian dài người ta cố tình đề cao hết mức nhà văn Tolstoi để hạ thấp hoặc chính xác là lờ đi một Tolstoi, nhà tư tưởng.

Sự ra mắt của cuốn Đường sống - văn thư nghị luận chọn lọc của Tolstoi bằng tiếng Việt bù đắp phần nào sự thiếu hụt trong nhận thức và tri thức của chúng ta lâu nay. Đường sống mở ra cho chúng ta một góc nhìn khác, một thế giới khác của Tolstoi - nhà triết học, nhà tư tưởng, nhà đạo đức... Càng đọc càng thấy ông quá lớn so với những gì ta đã biết”.


* Điều gì trong tư tưởng của Tolstoi thể hiện trong Đường sống mà ông thấy nổi bật nhất và có thể chia sẻ được ngay, thưa nhà văn?

- Những dấu ấn tư tưởng nổi bật nhất của Tolstoi trong những tiểu luận và thư từ này là sự gắn kết những tinh hoa của trí thức Nga với những tinh túy của nhân dân lao động Nga - nhất là nông dân. Tolstoi yêu người nông dân Nga và nhận rõ những giá trị của họ, nhưng không thần thánh hóa nông dân, coi đó là những giá trị tuyệt đối và phủ nhận trí thức - thành phần xuất thân của chính mình - như các nhà cách mạng dân túy cùng thời và sau này.

Có thể thấy tinh thần này xuyên suốt trong các tác phẩm của Tolstoi, từ văn học đến triết học, dễ thấy nhất qua ngòi bút của ông đặc tả vẻ đẹp Nga (Natasha Rostova trong Chiến tranh và hòa bình). Nhưng ông kiên quyết không biến cái tinh thần Nga đó thành “chủ nghĩa dân tộc” để cho các nhà cầm quyền lợi dụng. Ông đã nhấn mạnh điều đó nhiều lần trong các tiểu luận.
Một điểm nổi bật khác mà chúng ta có thể đọc được từ Đường sống, đó là tầm vóc của Tolstoi, những kiến giải sâu sắc của ông về giáo dục, tôn giáo, triết học, chính trị, xã hội, kinh tế... Nga. Rất thú vị là khi đọc tiểu thuyết của ông, có những điều ta chưa nhìn rõ mà chỉ cảm nhận thì đọc văn nghị luận của ông, ta bỗng thấy được soi sáng và lý giải thấu đáo. Đọc Tín ngưỡng của tôi, Tôn giáo là gì và bản chất của nó ở đâu?..., ta sẽ thấy những diễn biến tâm lý của “cha Xerghi” dưới một ánh sáng nhận thức khác. Hay khi đọc Bàn về giáo dục, về chủ nghĩa xã hội sẽ thấy những tư tưởng của ông thật hiện đại, nó trùng hợp với ý tưởng cách mạng giáo dục của những nhà giáo dục tiên tiến như John Deway (tác giả cuốn Giáo dục và dân chủ - NXB Tri Thức đã xuất bản), nhưng ông đi trước gần nửa thế kỷ...

* Vấn đề đặt ra là sách quá dày, quá nặng cả về trọng lượng và nội dung, chỉ nhìn mà chưa cầm lên đã thấy e ngại, làm sao có thể “phổ cập” nó như mong muốn của ông?

- Đầu tiên, tôi và tất cả độc giả của cuốn sách muốn chuyển lời cảm ơn đến nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư - người nghiên cứu, tuyển chọn và chú giải của bộ sách, cùng toàn thể nhóm dịch giả Nguyễn Thị Kim Hiền, Vũ Thế Khôi, Từ Thị Loan, Lã Nguyên. Họ đã làm việc rất cực nhọc và rất hiệu quả để cho ra đời một bản dịch theo tôi là rất tốt, đọc rất hấp dẫn và có chất Tolstoi.

Thứ hai, tôi muốn cảm ơn NXB Tri Thức vì đã quyết tâm xuất bản một cuốn sách thuần túy phổ biến kiến thức và rất khó tiêu thụ như thế này.

Thứ ba, tôi muốn người đọc hãy “bình tĩnh”, Tolstoi - nhà tư tưởng không hề khó đọc hơn Tolstoi - nhà văn. Hơn nữa, đấy là tập tiểu luận - thư từ, bạn có thể từ từ đọc những gì bạn thích trước, quan tâm đến vấn đề nào thì đọc vấn đề đó trước, vì thời lượng của mỗi tiểu luận đều không quá dài. Và khi đó, bạn sẽ thấy tất cả vấn đề mà Tolstoi đặt ra từ hơn một thế kỷ trước đều không xa lạ với chúng ta, từ tự do giáo dục đến quay trở về với nông nghiệp sinh thái..., không phải ngẫu nhiên mà nhiều học giả lớn của thế giới đều nói: “Nhân loại sẽ còn quay trở lại với Tolstoi vì những gì ông đã tìm kiếm, trăn trở và tiên liệu”.

THU HÀ thực hiện
http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/421517/Nha-van-Nguyen-Ngoc-Nhan-loai-se-con-quay-lai-voi-Tolstoi.html

Thứ Năm, 15 tháng 7, 2010

Tạ Quang Bửu một trí tuệ quảng bác, người chân tình chăm sóc các tài năng khoa học


DANH NHAN VIỆT. Hàm Châu .Báo Văn hóa Nghệ An trực tuyến đăng bài "Tạ Quang Bửu một trí tuệ quảng bác , người chân tính chăm sóc các tài năng khoa học". Ngay trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, ông đã mời một số nhà toán học Pháp được tặng Huy chương Fields (được coi như Giải thưởng Nobel trong toán học) như Laurent Schwartz, Alexandre Grothendieck sang thăm Việt Nam, đọc bài giảng về các vấn đề toán học hiện đại nhất, để cập nhật kiến thức cho đội ngũ nghiên cứu toán học nước ta. Ông là người đề xướng và tổ chức thực hiện việc thi tuyển sinh đại học và kiểm tra kiến thức nghiên cứu sinh một cách công bằng, minh bạch. Ông cũng là một trong những người chủ trương mở các lớp phổ thông chuyên toán ở nước ta vào năm 1965, từ đó đào tạo được mấy thế hệ các nhà khoa học tài năng cho đất nước. Ông mạnh dạn đưa học sinh ta đi dự các Olympic Toán Quốc tế ngay từ mùa hè năm 1974, khi nửa nước còn chiến tranh giải phóng. Nhiều học sinh chuyên toán thời ấy, về sau, đã trở thành những nhà toán học, nhà vật lý, nhà cơ học hay nhà quản lý khoa học và giáo dục có tiếng...

Bộ óc bách khoa

Có người cho rằng “Tạ Quang Bửu là một bộ óc Lê Quý Đôn thời nay”. Nhận định ấy cần có thêm thời gian để bình tĩnh kiểm chứng. Tuy nhiên, có thể nói ngay rằng đó không phải là điều thiếu căn cứ.

Tạ Quang Bửu sinh ngày 23-7-1910 tại làng Hoành Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà nho yêu nước. Cha là cụ cử nhân nho học Tạ Quang Diễm. Mẹ là bà Nguyễn Thị Đào (tức nữ sĩ Sầm Phố) có nhiều bài thơ vịnh cảnh nghèo, gửi gắm chút tình non nước in trên các báo Tiếng Dân, Phụ Nữ Thời Đàm...

Năm 1917, ở phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, mở kỳ thi cho những học sinh bảy tuổi, thi cả chữ Hán, Việt văn và toán, do ông nghè Đinh Văn Chấp chấm. Cậu bé Bửu đỗ cao và từ đấy nổi tiếng học giỏi.

Năm 1929, là học sinh Trường Bưởi (Hà Nội), Tạ Quang Bửu đỗ đầu kỳ thi tú tài bản xứ (chương trình học và thi rất nặng). Sau đó, ông thi cùng học sinh các trường Tây, đỗ đầu tú tài Tây ban toán, và đỗ hạng ưu tú tài Tây ban triết. Toán học và triết học là hai môn được ông yêu thích ngay từ khi còn trẻ.

Đỗ cao nên ông nhận được học bổng của Hội Như Tây du học (một hội khuyến học của Nam triều) để sang Pháp học tiếp. Trước đó, vào năm 1928, các ông Nguyễn Xiển và Hoàng Xuân Hãn cũng đã nhận được học bổng của Hội này để đi du học.

Đến Paris, ngành học đầu tiên ông Bửu chọn là toán học. Các giáo sư Pháp rất quý ông về sự nhạy cảm toán học và óc suy luận thông minh, sắc bén. Sau này, GS Lê Văn Thiêm kể lại: Trong kỳ thi lấy một chứng chỉ rất khó, hơn 100 người dự thi, chỉ có 4 người đỗ trong đó có ông Bửu.

Sau khi theo học chương trình cử nhân khoa học tại Đại học Sorbonne (Paris), ông Bửu xuống Bordeaux để học thêm thầy Trousset về cơ học. Ông đọc kỹ cuốn Cơ học của Rauth và làm hầu hết các bài tập trong đó. Rồi ông dự thi và nhận được học bổng của Đại học Oxford bên Anh. Tại đây ông có cơ hội trau dồi tiếng Anh, nhất là về mặt ngữ âm và hội thoại, cũng như học cơ học lượng tử qua các xêmina. Năm 1938, ông lại có dịp trở lại nước Anh dự Trại Tráng sĩ của Tổ chức Hướng đạo Thế giới, thi lấy bằng trại trưởng. Một mẩu chuyện vui: Ông phải thi thuyết giáo về kinh Phúc Âm tại một nhà thờ Tin lành ở Anh, hấp dẫn đến mức có người tưởng ông là... mục sư!

Trở về nước, ông từ chối làm quan, chỉ nhận dạy toán và tiếng Anh tại Trường Thiên Hựu, một trường trung học tư ở Huế. Ông nhận thấy khó có thể hiểu sâu văn hóa Việt Nam và phương Đông nếu không học kỹ chữ Hán. Ông lên Bến Ngự xin thụ giáo cụ Phan Bội Châu, miệt mài nghiền ngẫm loại văn tự khó bậc nhất thế giới này. Ông dần tự đọc hiểu Luận Ngữ của Khổng Tử, Đạo Đức Kinh của Lão Tử, Nam Hoa Kinh của Trang Tử và nhiều tác phẩm kinh điển khác của triết học phương Đông trong nguyên văn Hán ngữ. Vốn kiến văn uyên bác ấy giúp ông gặt hái nhiều thành quả về sau...

Ngay trong mấy năm đầu chống Pháp vô cùng khó khăn, ông liên tiếp cho ra mắt bạn đọc nhiều cuốn sách như: Thống kê thường thức, Vật lý cương yếu, Nguyên tử - Hạt nhân - Vũ trụ tuyến, và Sống. Mới đây, Nhà xuất bản Giáo Dục đã in lạicác tác phẩm ấy.

Tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc năm 1948 ở Việt Bắc, ông Nguyễn Xiển nói: “Trong thời kỳ kháng chiến này, ông Bửu là nhà khoa học viết được nhiều nhất, do vậy có thể ảnh hưởng nhiều nhất đến các thế hệ đương thời.” Rồi ông Xiển dự báo: “Với những người mở đường như ông Bửu, ông Thiêm, chắc chắn nước ta sẽ có hàng trăm nhà toán học có tài không kém nước khác.”

GS Lê Văn Thiêm có lần kể lại: “Năm 1951, đến thăm anh Bửu tại một ngôi nhà lá dùng làm trụ sở của cơ quan Bộ Quốc phòng giữa rừng Tuyên Quang, tôi kinh ngạc và thú vị khi thấy, tuy chìm ngập trong công việc, anh vẫn dành thời gian đọc các sách báo toán nổi tiếng qua tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức...”.

GS Bửu có thói quen đọc sách ở mọi nơi, mọi lúc, đọc rất nhanh, nhớ rất lâu. Có lần qua châu Sơn Dương, ngồi trên lưng ngựa, mải mê đọc Nicolas Bourbaki, ông ngã tòm xuống suối! Về sau, ông viết cuốn Về cấu trúc của N. Bourbaki (1960). Và, cuốn sách giới thiệu khoa học hiện đại cuối cùng của GS Bửu là cuốn Hạt cơ bản in sau khi ông qua đời.

Theo GS Thiêm thì “năng lực tự học của anh Bửu gần như là một thiên huyền thoại!”

Nhà ngôn ngữ học toán học người Mỹ Noam Chomsky, người được tạp chí Mỹ Newsweek (Tuần Tin tức) đánh giá là “một trong những nhà bác học lớn nhất thế kỷ 20”, nhiều lần sang thăm Việt Nam và trò chuyện với GS Tạ Quang Bửu. Trở về Mỹ, N. Chomsky viết bằng tiếng Pháp: “Monsieur Ta Quang Buu est un homme d’une intelligence formidable!” (Ông Tạ Quang Bửu là một người thông minh khủng khiếp!).

GS Bửu còn là người tinh thông nhiều ngoại ngữ. Ông Nguyễn Xuân Huy cho biết: Hồi Chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội ta nhận được pháo phòng không của Liên Xô (cũ), kèm theo một bản hướng dẫn cách sử dụng máy ngắm bắn máy bay bằng tiếng Nga. Ông Huy không biết nhờ ai dịch, bởi vì lúc đó ở Bộ Quốc phòng chỉ có phiên dịch tiếng Trung Quốc. Nghe nói trên Bộ có ông Bửu chỉ tự học ba tháng đã đọc hiểu tiếng Nga, ông Huy liền cuốc bộ suốt một ngày một đêm lên gặp.

“Anh Bửu xem lướt qua, rồi đọc một mạch tiếng Nga làm tôi phục quá! Xong, anh dịch ngay ra tiếng Pháp cho tôi đem về đọc lại thật kỹ để hướng dẫn bộ đội.” Ông Huy kể lại mẩu chuyện đó trong một bài hồi ký in gần đây.

Năm 1963, nhà toán học Ba Lan Mikusinsky gửi tặng GS Bửu một số kết quả nghiên cứu mới của mình. GS Bửu đọc thẳng tiếng Ba Lan và sau đó thuyết trình về toán tử Mikusinsky cho các giảng viên toán tại các trường đại học ở Hà Nội.

Còn về tiếng Anh, thì trong những ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám, là Tham nghị trưởng ngoại giao (lúc đó Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao), ông Bửu giúp Bác Hồ soạn thảo các bức công hàm gửi Stalin, Truman, Atlee..., và tiếp các nhà ngoại giao Anh, Mỹ...

Mới đây, trong cuốn sách dày hơn 500 trang nhan đề Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam?), ông Archimedes L. A. Patti, một người Mỹ vốn là đại tá tình báo, miêu tả những con người và sự kiện ở Hà Nội vào năm 1945, trong đó có đoạn:

“Một vị khách đợi tôi ở biệt thự. Đó là ông Tạ Quang Bửu, một người Việt Nam ưu tú, có lẽ gần 30 tuổi. Tôi nhớ hình như đã trông thấy ông ở đâu đó nhưng không chắc lắm. Tôi và Bernique bắt tay ông. Ông tự giới thiệu là “do Bộ Nội vụ cử tới”. Ông nói tiếng Anh hoàn hảo với giọng đặc Oxford, không lơ lớ chút nào, khiến tôi sững sờ kinh ngạc...”.

Chúng ta còn nhớ Bộ trưởng Bộ Nội vụ năm 1945-1046 là đồng chí Võ Nguyên Giáp...

Người phát hiện, bồi dưỡng, nâng đỡ, cảm hoá các tài năng khoa học

Sau ngày Hà Nội giải phóng (10-10-1954), với cương vị Phó Chủ nhiệm kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Khoa học Nhà nước, rồi Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, GS Tạ Quang Bửu đã hết lòng xây dựng đội ngũ các nhà toán học Việt Nam. Ngay trong những năm chiến tranh ác liệt, để cập nhật kiến thức cho đội ngũ toán học nước ta, ông đã mời nhiều nhà toán học Pháp được tặng Huy chương Fields như Laurent Schwartz hay Alexandre Grothendieck sang thăm Việt Nam, đọc bài giảng về các vấn đề toán học hiện đại nhất.

Có thể nói, GS Tạ Quang Bửu có mối quan hệ gắn bó thân thiết và có ảnh hưởng sâu đậm đến nhiều nhà khoa học, kỹ thuật có uy tín ở nước ta như: Hoàng Tuỵ, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Hiệu, Vũ Đình Cự, Phan Đình Diệu, Nguyễn Văn Đạo, Hoàng Xuân Sính, Nguyễn Đình Trí, Hoàng Hữu Đường, Phan Đức Chính, Phạm Hữu Sách, Đàm Trung Đồn, Vũ Thanh Khiết, Nguyễn Lân Dũng, Đặng Vũ Minh, Nguyễn Văn Điệp, Hà Huy Khoái, Ngô Huy Cẩn (tiến sĩ khoa học cơ học, thân phụ nhà toán học Ngô Bảo Châu), v.v.

GS Nguyễn Văn Hiệu, nhà vật lý Việt Nam được tặng Giải thưởng Lenin và Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học - kỹ thuật, kể lại: “Đầu năm 1958, tại giảng đường Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, GS Tạ Quang Bửu thuyết trình về phát minh vật lý mới đoạt Giải thưởng Nobel của hai nhà bác học người Mỹ gốc Hoa là Lý Chính Đạo và Dương Chấn Ninh về sự không bảo toàn tính chẵn lẻ trong tương tác yếu. Buổi thuyết trình hôm ấy đã mang đến cho tôi một niềm hứng thú vô biên và đột ngột mặc dù, vào lúc đó, tôi chưa thật hiểu rõ nội dung phát minh nói trên. Tương tác yếu trở thành một đề tài nghiên cứu mang tính thời sự nóng hổi, hấp dẫn đến mức có nhà vật lý nước ngoài từng quả quyết: “Trái tim tôi thuộc về tương tác yếu!” Tôi cảm thấy câu nói đó không xa lạ đối với chính mình. Cho nên, ngay sau khi được cử sang làm việc tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna ở Liên Xô, tôi say mê lao vào nghiên cứu lĩnh vực nói trên và chẳng bao lâu sau, công bố 12 công trình về neutrino…”.

GS Ngô Việt Trung, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới thứ ba, Viện trưởng Viện Toán học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho biết: “Tôi còn nhớ đó là một buổi chiều chớm lạnh giữa thập niên 70 thế kỷ trước. Sau giờ làm việc, GS Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, sang công tác tại CHDC Đức, cho gọi tôi và vài anh em ta đang học tập, nghiên cứu tại đây đến khách sạn, nơi ông lưu trú. Lúc bấy giờ, tôi đang theo học Đại học Berlin. GS Bửu thân mật hỏi chuyện chúng tôi và, đối với riêng tôi, ông cho mượn một cuốn sách chuyên khảo thuộc chuyên ngành tôi đang nghiên cứu, rồi căn dặn nên đọc thêm những nhà toán học nào ở phương Tây, bởi vì, theo ông, trong chuyên ngành này, các công trình của các nhà toán học CHDC Đức và các nước xã hội chủ nghĩa khác chưa phải là tiên tiến nhất. Cuộc trò chuyện kéo dài đến quá nửa đêm. GS Bửu bảo chúng tôi ngủ lại tại phòng ông. Nhưng trong phòng chỉ có… một cái giường! Ông nêu ra “sáng kiến”: Tất cả ngủ ngay dưới sàn nhà bởi vì, theo ông, sàn có trải thảm len, không sợ lạnh… Tôi cảm thấy ngành khoa học và giáo dục nước ta, vào thời điểm ấy, đã có một nhà lãnh đạo tài, đức tuyệt vời. Vì vậy, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ khoa học toán học ở nước bạn, tôi vui vẻ trở về nước phục vụ, mặc dù biết rằng mình sẽ phải đương đầu với vô vàn khó khăn…”.

GS Tạ Quang Bửu còn cảm hoá nhiều nhà trí thức Việt kiều hướng về Tổ quốc. Ông có quan hệ thân thiết với các nhà toán học Frédéric Phạm, Lê Dũng Tráng, Bủi Trọng Liễu, v.v. Trong thiên hồi ký Chuyện gia đình và ngoài đời, GS Bùi Trọng Liễu, Đại học Paris, kể lại: “Vào khoảng năm đầu thập niên 1960, cái thời xa xăm ấy, lúc mà tâm trí đông đảo bà con Việt kiều hầu như còn dồn cả vào tình hình chính trị miền nam, và chỉ lẻ tẻ vài cá nhân tự nguyện gửi sách báo, dụng cụ khoa học về một vài cơ sở ở miền bắc, bỗng một bữa tôi nhận được một cuốn từ điển khoa học in trong nước do anh Tạ Quang Bửu gửi tặng. Sự việc thật đơn giản này gợi cho tôi câu hỏi: Đây là đường lối “chiêu hiền đãi sĩ” của cách mạng Việt Nam mà anh là một trong những người góp phần vạch ra và thực hiện, hay là một dấu hiệu trong nước không từ chối sự đóng góp “tri thức” của kiều bào nước ngoài? Chắc là cả hai. Quan hệ giữa tôi và anh bắt đầu từ ngày đó... Rồi chiến tranh lan rộng ra miền bắc...

Mùa xuân 1969, điều tôi mong mỏi chờ đợi đã đến. Anh T., vị tham tán văn hoá đầu tiên tại Cơ quan Tổng Đaị diện nước ta tại Pháp tới Paris, mang theo lời gợi ý của anh Bửu mời tôi về nước làm việc một tháng, thí điểm cho việc Việt kiều về công tác ngắn hạn (nhưng hè 1970, tôi mới sắp xếp về nước được). Gặp anh, tôi cảm thấy mình cùng trên một “làn sóng” với anh: “Thể xác không cần liên tục tại chỗ - anh nói - vẫn có thể đóng góp được. Một tập thể những Việt kiều có chuyên môn cao, có nghề nghiệp vững chắc, có địa vị xã hội ổn định, là một cửa sổ của ta mở sang phía các nước phương Tây...”.

Nhà trí thức Việt kiều tiêu biểu ấy đã hướng về đất nước do “sức hút” của bậc “đại sĩ phu hiện đại” Tạ Quang Bửu.

Ông cũng là người đề xướng việc mở các lớp phổ thông chuyên toán đầu tiên ở nước ta vào năm 1965, từ đó đào tạo được mấy thế hệ các nhà toán học tài năng cho đất nước. Ông mạnh dạn chủ trương đưa học sinh ta tham gia các Olympic Toán Quốc tế ngay từ mùa hè năm 1974 khi đất nước còn chưa thống nhất. Nhiều học sinh chuyên toán thời ấy, về sau, đã trở thành những nhà toán học, nhà vật lý, nhà cơ học có tiếng như: Ngô Việt Trung, Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn, Vũ Hà Văn, Lê Tự Quốc Thắng, Phạm Hữu Tiệp, Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Đông Anh, Phạm Lê Kiên, Vũ Kim Tuấn, Nguyễn Hồng Thái, Lê Hồng Vân, Nguyễn Thị Thiều Hoa, Đinh Tiến Cường, Ngô Đắc Tuấn, Lê Hùng Việt Bảo; v.v. Một số học sinh chuyên toán khác, về sau, giữ trọng trách quản lý trong khoa học và giáo dục như: Đào Trọng Thi, Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Giám độc Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Văn Nhung, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Lê Tuấn Hoa, Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam; Nguyễn Đình Công, Phó Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam; v.v.

GS Tạ Quang Bửu đột ngột ngừng làm việc vào đêm 14-8-1986 do rồi loạn tuần hoàn não. Một tuần sau, trưa 21-8, ông qua đời để lại những bài viết dở dang, những bản thảo chưa in.

Chiến lược con người, đó là nhan đề bài báo cuối cùng của GS Tạ Quang Bửu in trên tạp chí Tổ Quốc. Ông định chỉnh lý và bổ sung bài báo này thành một kiến nghị trình Đại hội VI của Đảng CS Việt Nam, nhưng chưa kịp làm.

Đẹp một cuộc đời
Đẹp một con người
Sao anh quá vội?
Khóc anh nghẹn lời.

“Chiến lược con người”
Anh vừa phác thảo
Mực còn chưa ráo
Chữ còn đương tươi
Tim bỗng ngừng đập
Anh đã đi rồi…

Nhà thơ đất Quảng, Khương Hữu Dụng, năm ấy 79 tuổi, bạn cùng lớp với GS Tạ Quang Bửu và GS Phan Thanh trong bốn năm theo học Trường Quốc học Huế ((1922-1926), ghi vội mấy vần thơ thương tiếc người bạn cố tri yêu quý…

Tại Paris, thủ đô nước Pháp, Viện sĩ Laurent Schwartz, nhà toàn học lỗi lạc được tặng Huy chương Fields (được coi như Giải thưởng Nobel trong toán học), đã viết trên tờ Le Monde (Thế Giới):

“Tạ Quang Bửu và Lê Văn Thiêm là những nhân vật lớn mà nước Việt Nam khoa học không thể nào quên (…). Hai ông đã tiến hành một cuộc đấu tranh đầy khó khăn cho sự vô tư trong khoa học. Các nhà toán học Việt Nam ngày nay đều kính trọng hai con người ấy. Do vậy mà ngày nay Việt Nam vẫn còn là một nước đạt trình độ nghiên cứu toán học cao nhất ở vùng Viễn Đông; ít ra là về những đỉnh cao nghiên cứu, còn về trình độ trung bình thì, giờ đây, Việt Nam đã bị các nước và lãnh thổ được gọi là những “con hổ châu Á” như Hong Kong, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan vượt qua. Nhưng, về những đình cao nghiên cứu, Việt Nam vẫn còn ở hàng đầu…”.

Nhiều người trong chúng ta còn nhớ, sinh thời, GS Tạ Quang Bửu đã từng âm thầm chịu đựng trong nhiều năm lời “quy kết” là người theo “chủ nghĩa tài năng”, mất “lập trường giai cấp”!

Sau khi qua đời, GS Tạ Quang Bửu được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về “Tập hợp các công trình giới thiệu khoa học - kỹ thuật hiện đại sau năm 1945”.

Để mãi mãi ghi nhớ cống hiến của ông cho cách mạng và khoa học, ở Hà Nội, có một đường phố mang tên phố Tạ Quang Bửu chạy xuyên qua Trường Đại học Bách khoa, nơi ông từng làm Hiệu trưởng vào những ngày đầu trường mới thành lập.

Thời gian trôi nhanh! Thấm thoắt đã đền dịp kỷ niệm l00 năm Ngày sinh GS Tạ Quang Bửu. Là nhà báo, nhà văn, là đồng hương Nam Đàn, Nghệ An, và cũng là người em họ của GS Bửu, tôi trân trọng ghi lại đôi điều về con người quá cố vô cùng đáng kính ấy, con người mà, khi ông còn sống, tôi đã may mắn có mối quan hệ chân tình gần gũi .