<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-6386160990305421427</id><updated>2012-01-27T00:37:44.626+07:00</updated><category term='Nguyễn Thiếp'/><category term='Nguyễn Lân người Thầy về tiếng Việt'/><category term='Quà xuân và thú chơi văn hoá'/><category term='Tạ Quang Bửu'/><category term='Đào Duy Từ'/><category term='Dĩ công vi thượng: Nhân cách lớn của đại tướng Võ Nguyên Giáp'/><category term='Tư liệu quý về Hồ Chí Minh'/><category term='Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch- Một người hiền vĩ đại'/><category term='Nguyễn Bỉnh Khiêm'/><category term='Đọc và suy ngẫm Tết Mậu Thân 1968'/><category term='Suy ngẫm minh triết Hồ Chí Minh'/><category term='Phan Châu Trinh và sự thức tỉnh dân tộc thế kỷ XX'/><category term='Tướng Giáp'/><category term='danhnhanviet'/><category term='GS.TS Hoàng Xuân Sính: &quot;Học không biết mỏi'/><category term='Phan Huy Chú'/><category term='Võ Nguyên Giáp vị nhân tướng khuyến học'/><category term='dạy người không biết chán&quot;'/><category term='Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy. ?'/><category term='Chu Văn An'/><category term='Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Chân dung một huyền thoại'/><category term='Võ Nguyên Giáp: Thiên tài quân sự'/><category term='Võ Nguyên Giáp'/><category term='Đọc Lữ Phương viết về thầy Giàu'/><category term='Nguyễn Hiến Lê'/><category term='Đọc lại và suy ngẫm'/><category term='Thêm một tài liệu quý về Hồ Chí Minh'/><category term='Tư liệu quý đọc lại và suy nghĩ'/><category term='Đường sống Tonstoi - Nguyên Ngọc giới thiệu'/><title type='text'>Danh nhân Việt</title><subtitle type='html'>"Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. 
Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin".www.danhnhanviet.blogspot.com</subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>30</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6386160990305421427.post-1802470244401861510</id><published>2011-10-31T23:10:00.001+07:00</published><updated>2012-01-26T11:51:31.099+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy. ?'/><title type='text'>Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy ?</title><content type='html'>&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/-gXZW2s0Ah8k/Tq7BnAhHf5I/AAAAAAAAJEY/IjKcScbeF-g/s1600/HoChiMinh.jpg" imageanchor="1" style="margin-left:1em; margin-right:1em"&gt;&lt;img src="http://4.bp.blogspot.com/-gXZW2s0Ah8k/Tq7BnAhHf5I/AAAAAAAAJEY/IjKcScbeF-g/s320/HoChiMinh.jpg" border="0" height="267" width="184" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;"Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh / Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành / Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy? / &lt;a href="http://thovanhoangkim.blogspot.com/2008/03/tm-hn-bnh-d-ch-anh-minh.html"&gt;Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH&lt;/a&gt;". Đây là bài tứ tuyệt được thêu trên bức trướng do 5 nhà cách mạng lão thành Nga gửi đến tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh.. Làm sao mà các nhà cách mạng Nga lại làm được thơ tứ tuyệt, hay là họ nhờ ai đó làm giúp theo ý họ?  Các chữ viết hoa trong bài tứ tuyệt được thêu chữ hoa, nghĩa là có dụng ý. Ba chữ là lấy từ trong “Hồ Chí Minh”. Còn chữ “Thơm” có phải đó cũng là tên hoạt động của Bác Hồ trong thời gian công tác cùng với 5 nhà cách mạng Nga kia? Hay là một tên gọi khác của Bác mà rất ít người biết? Câu hỏi trên của anh Phan Chí Thắng , mỗi năm tôi lại đưa lên mạng ít nhất một lần để thu thập thêm tư liệu. Nhiều vấn đề lịch sử sẽ cần phải có thêm thông tin và thời gian. Dưới đây là hai bài viết của &lt;a href="http://lemaiblog.wordpress.com/2011/10/30/ch%E1%BB%A7-t%E1%BB%8Bch-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-2/"&gt;Lê Mai về Chủ tịch Nước Hồ Chí Minh&lt;/a&gt; và đường dẫn tới tác phẩm &lt;a href="http://songviet.com/mlib/index.php?option=com_content&amp;amp;view=article&amp;amp;id=105:motcongiobui&amp;amp;catid=4:hoiky&amp;amp;Itemid=13"&gt;Một Cơn Gió Bụi - Lệ Thần Trần Trọng Kim &lt;/a&gt; làm sáng thêm một góc khuất của trí tuệ bậc Thầy.  Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy ? &lt;/b&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;CHỦ TỊCH NƯỚC HỒ CHÍ MINH&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Lê Mai&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;QUỐC HỘI nước VNDCCH, vào ngày 9.11.1946, đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên mà sự tiến bộ, mẫu mực, dân chủ của nó cho đến nay – không những làm chúng ta mà còn làm cả thế giới thán phục. Trong bản Hiến pháp dân chủ ấy, ngoài việc thiết kế một thiết chế chính trị mẫu mực, đã quy định quyền hạn của Chủ tịch nước rất rõ ràng, đó là người thay mặt cho nước, giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân, không quân, ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, ban bố các đạo luật, đặc xá, ký hiệp ước với các nước, tuyên chiến hay đình chiến…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hồ Chí Minh là Chủ tịch đầu tiên của nước VNDCCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dĩ nhiên, dấu ấn của Hồ Chí Minh hết sức đậm nét trong bản Hiến pháp đầu tiên. Sự thông minh xuất chúng, hiểu nhiều, biết rộng của Hồ Chí Minh đã làm Võ Nguyên Giáp – một người tài ba, một cộng sự rất gần gũi Hồ Chí Minh kinh ngạc. Ông kể, gần như làm bất cứ việc gì, ông đều thấy Hồ Chí Minh đã tiên liệu, suy nghĩ vấn đề đó từ rất lâu rồi. Bản Tuyên ngôn độc lập, bản Hiến pháp đầu tiên của nước VNDCCH chỉ là vài dẫn chứng sinh động.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với những tình huống đột xuất thì sao? Những ứng phó của Chủ tịch nước Cộng hòa non trẻ, trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong, giặc ngoài đầy rẫy càng làm chúng ta khâm phục.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay sau cái Tết Bính Tuất năm 1946 – Tết độc lập đầu tiên sau tám mươi năm trời nô lệ, Hồ Chí Minh đã có một cuộc nói chuyện dài với tướng Raun Xalăng. Xalăng – một sỹ quan Pháp, người đã từng ăn cơm lam chấm mắm ngóe miền thượng nguồn, ăn mắm tôm vắt chanh ở miền xuôi của VN. Tướng Xalăng đang rất hung hăng, điều này dễ hiểu, vì bấy giờ, Pháp ỷ vào sức mạnh nên coi thường Chính phủ Hồ Chí Minh. Nhưng, ông ta có vẻ bối rối khi hiện ra trước mắt mình là một nhà hiền triết phương Đông với phong thái ung dung tự tại tỏa ra từ đôi mắt sáng, chòm râu thưa, mái tóc pha sương, nước da dãi dầu mưa nắng, một cốt cách thanh cao khắc khổ ẩn tàng sức mạnh siêu quần được dấu kín trong bộ quần áo kaki cổ đứng không cài cúc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Mời tướng quân xơi nước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tướng Xalăng nâng chén nước lên theo lời mời của Hồ Chí Minh và nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Thưa ngài Hồ Chí Minh…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lập tức, Hồ Chí Minh ngắt lời ông ta:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Tôi đã mời “tướng quân” xơi nước chứ tôi không mời “ngài” Raun Xalăng…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Raun Xalăng mất chủ động, lúng túng xin lỗi, mặc dù dụng ý của ông ta rất rõ ràng: không công nhận chức Chủ tịch của Hồ Chí Minh, cũng tức là không công nhận nước VNDCCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau những lời xã giao, thăm hỏi, trao đổi về tình hình chung, bỗng Raun Xalăng chuyển câu chuyện. Ông ta nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Chủ tịch thử nghĩ xem, nên để chúng tôi khôi phục trật tự ở nước này, vì chúng tôi đủ lực lượng và rất nhiều phương tiện. Theo ý tôi, nếu được như vậy đất nước này sẽ biết ơn Chủ tịch, vì Chủ tịch là người đứng đầu Chính phủ có uy tín tuyệt đối với nhân dân. Nếu Chủ tịch để chúng tôi đưa quân vào đây không gặp trở ngại nào thì đó là sự chứng minh trước thế giới Chủ tịch biết kiềm chế quân đội của mình và điều đó thể hiện uy quyền của Chủ tịch là vô song.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phải công nhận lời nói của Xalăng rất khôn khéo mà hiểm độc. Hồ Chí Minh bình thản chế thêm nước trà vào chén mời Xalăng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Tướng quân uống nước đi. Hút tiếp một hơi thuốc lá thơm, giọng nói trầm hùng của Hồ Chí Minh phắt căng lên:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Tôi không thể làm như lời tướng quân, nếu làm như vậy, tôi sẽ là kẻ phản quốc. Tướng quân nên nhớ rằng, chúng tôi yêu nước Pháp, nhưng không muốn làm nô lệ. Nước Pháp có binh hùng, có nhiều tướng giỏi, nhiều vũ khí tối tân. Một Pháp có thể giết 10 VN, 10 VN có thể chỉ diệt được một Pháp nhưng toàn dân VN đều một lòng kháng chiến chống Pháp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Chúng tôi rất mạnh. Cuộc đổ bộ của chúng tôi đã sẵn sàng. Vì sao Chủ tịch không chịu thừa nhận điều hiển nhiên ấy?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giọng Hồ Chí Minh như có lửa:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nếu quân Pháp lại đổ bộ đến đây, chúng tôi không chặn đứng được ngay, nhưng  sẽ đổ máu, những người dân Pháp sẽ bị chết. Đó là điều bất hạnh cho cả hai bên. Chúng tôi không bao giờ mong điều đó xảy ra. Nhưng chúng tôi không chịu làm nô lệ một lần nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu chuyện trên về Hồ Chí Minh gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ, nhất là trong bối cảnh hiện nay, cuộc tranh chấp chủ quyền ở biển Đông đang diễn ra hết sức phức tạp, vấn đề xử lý mối quan hệ Việt – Trung, các cuộc biểu tình của người dân yêu nước phản đối sự gây hấn của TQ, sự ngăn cấm của nhà cầm quyền…Hơn ai hết, tấm gương sáng của Chủ tịch nước Hồ Chí Minh, người lãnh đạo một dân tộc bất khuất đang nhắc nhở chúng ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi sau đó, Hồ Chí Minh là thượng khách của nước Pháp nhân Hội nghị Phôngtennơblô. Trên đường bay sang Pari, Hồ Chí Minh nhận được tin ở VN, cao ủy Xêđin và đô đốc Dacgiăngliơ đã nặn ra cái gọi là “Chính phủ Nam Kỳ tự trị”. Hồ Chí Minh nói với Raun Xalăng – người tháp tùng trong cuộc hành trình:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Tướng quân này, các ông đừng có ảo tưởng biến Nam Bộ của chúng tôi thành một thứ Anđát – Loren mới, nếu các ông cứ dẫm chân lên dấu bàn chân cũ thì sẽ dẫn đến cuộc chiến tranh một trăm năm. Thôi, ông hãy đưa tôi trở về Hà Nội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thật là kiên quyết, thật là dũng cảm, không hề có một chút run sợ trước kẻ thù. Sau khi Xa lăng đề nghị cứ tiếp tục sang Pari, nơi đó Chủ tịch sẽ thanh toán các vấn đề, Hồ Chí Minh tiếp tục:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Tôi tin tướng quân. Ở Pháp, tôi có nhiều bạn tốt dẫu rằng thế giới đang là một biển thù.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Thế giới đang là một biển thù” nhưng vị Chủ tịch nước với lòng yêu nước và thiên tài của mình đã dẫn dắt dân tộc VN vượt qua. Lịch sử đã chứng minh hùng hồn. Thế thì, ngày nay, thế giới đâu còn là một biển thù nữa, tại sao VN không thể đứng thẳng, ngẩng cao đầu một cách hiên ngang?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến đây, như thường lệ, chúng ta nhìn sang bên kia biên giới, một ông Chủ tịch nước khác – Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước CHNDTH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lưu Thiếu Kỳ, người đầu tiên đề xuất cụm từ “tư tưởng Mao Trạch Đông”, đưa vào điều lệ Đảng, uy tín ngày một lên cao, nhất là trong bối cảnh Mao liên tục “phát minh” ra các sáng kiến “trăm hoa đua nở”, “đại nhảy vọt”, “công xã nhân dân” làm chết đói hàng chục triệu người dân. Mao sợ mất đại quyền. Mao căm thù ông nhiều chuyện, song, “quân tử mười năm trả thù cũng chưa muộn”, Mao ghim nó trong lòng. Cơ hội đến, Mao gán cho Lưu Thiếu Kỳ là “phản bội, nội gian, công tặc”, là đầu sỏ phái đương quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đến nỗi, Lưu Thiếu Kỳ xin được từ chức Chủ tịch nước, về quê làm ruộng cũng không được Mao đồng ý. Và ông đã chết sau bao nhiều cực khổ vì bị đày đọa, với cái tên Lưu Vệ Hoàng, còn mục nghề nghiệp ghi là “vô nghề nghiệp”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TQ là như thế đó, thế mà người ta không hiểu lịch sử ư?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vấn đề Chủ tịch nước TQ chưa dừng lại ở đó. Tháng 3.1970, Mao kiến nghị cải biến thể chế quốc gia, không lập chức Chủ tịch nước nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lâm Bưu, người kế vị Mao đã được ghi vào Điều lệ Đảng – một việc chưa từng có, vừa mừng vừa lo. Mừng vì Mao tỏ thái độ sẽ không làm Chủ tịch nước, đương nhiên phải là ông ta. Lo vì Mao không chủ trương lập chức Chủ tịch nước, vậy đừng hòng ai mơ tưởng chức vụ ấy. Lâm Bưu hai lần điện thoại cho Mao “kiến nghị cần để Mao Trạch Đông giữ chức vụ Chủ tịch nước”, đều bị Mao khước từ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lâm Bưu lại lao tâm khổ tứ, đề xuất kiến nghị chính thức với Bộ Chính trị. Ông ta cho rằng, nếu kiến nghị chính thức với Bộ Chính trị, Mao không thể dễ dàng bỏ qua.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nửa đêm, Lâm Bưu đọc kiến nghị cho thư ký ghi chép. Thứ nhất, vấn đề Chủ tịch nước, đồng chí Lâm Bưu vẫn kiến nghị để Chủ tịch Mao Trạch Đông kiêm nhiệm. Như vậy, thích hợp với trạng thái tâm lý của nhân dân, trong nước và nước ngoài, trong đảng và ngoài đảng. Thứ hai, vấn đề Phó Chủ tịch nước, đồng chí Lâm Bưu cho rằng có thể có, có thể không, có thể nhiều, có thể ít, không mấy hệ trọng. Thứ ba, đồng chí Lâm Bưu cho rằng, bản thân mình không nên đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bản kiến nghị của Lâm Bưu cực kỳ khéo léo. Nói thẳng ra, mình chỉ có thể làm Chủ tịch nước. Nhưng than ôi, chỉ một thời gian ngắn sau đó, kết cục bi thảm đã đến với ông ta khi chiếc máy bay đưa ông ta chạy trốn bị rơi trên đất Mông Cổ, không một ai sống sót. Câu chuyện về Chủ tịch nước chưa thể dừng lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trở lại với nước VNDCCH sau ngày lập nước đang phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, nguy hiểm. Hơn hai triệu người dân vừa chết đói. Ngân khố quốc gia trống rỗng. Thù trong, giặc ngoài. Mười tám vạn quân Tưởng tràn vào miền Bắc với danh nghĩa giải giáp quân Nhật, song mục đích của chúng hơn thế, “diệt Cộng, cầm Hồ”. Người Pháp không cam chịu thất bại, âm mưu quay trở lại nắm chính quyền. Cùng một lúc, VN đang phải đối mặt với nhiều kẻ thù. Cần phải có đối sách đúng đắn, sáng suốt mới đưa đất nước thoát ra khỏi tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Và chính thiên tài của vị Chủ tịch nước Hồ Chí Minh, trong giai đoạn cực kỳ hiểm nghèo ấy, đã thể hiện một cách rực rỡ nhất. “Nếu không có Hồ Chí Minh thì khó lường hết cái gì có thể xẩy ra” - Phạm Văn Đồng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quân Tưởng hết sức ngang ngược, chẳng khác gì ông cha chúng nó và có lẽ hậu duệ của chúng cũng vậy? Chúng đòi hỏi đủ điều. Chúng chiếm những ngôi nhà đẹp. Chúng khiêu khích ta nhằm tìm một cái cớ để nổ súng – y như trên biển Đông hiện nay. Chúng bắt ta cung cấp gạo cho chúng, trong khi đồng bào ta không có cơm ăn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có hôm, Hồ Chí Minh và Huỳnh Thúc Kháng lên gặp Lư Hán ở Chủ tịch phủ – bấy giờ đã bị chúng chiếm đóng. Lư Hán hoạnh họe hơn một tiếng đồng hồ, lên mặt hạch sách, nói các anh làm ăn không ra sao cả. Hồ Chí Minh và Huỳnh Thúc Kháng nín lặng, không nói gì, nhưng trong lòng rất bực tức. Ra về, cụ Huỳnh nói: “Nó khinh mình quá lắm. Không chịu nổi nữa, cứ đánh đi, rồi muốn ra sao thì ra”!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Huỳnh Thúc Kháng chính là quyền Chủ tịch nước khi Hồ Chí Minh đi Pháp bốn tháng, giữa lúc thế nước cực kỳ rối ren. Cụ Huỳnh là một nhân sỹ nổi tiếng, khảng khái, bất khuất nhưng không ưa cộng sản. Hồ Chí Minh đã nhiều lần mời cụ ra Hà Nội nhận chức Bộ trưởng nhưng cụ chưa chịu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hồ Chí Minh nghe người bí thư đọc bức điện trả lời của Huỳnh Thúc Kháng :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- “Thưa Chủ tịch, thời tiết xấu, tôi chưa đi được. Tôi không thể nhận chức Bộ trưởng. Nhưng trước sau cũng sẽ ra gặp Cụ”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hồ Chí Minh trầm ngâm hút thuốc:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Chẳng lẽ cụ Huỳnh từ chối không chịu ra phụng sự quốc dân trong cơn nguy nan này?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Cụ Huỳnh đã khước từ Bảo Đại mời ra lập chính phủ thay cho Trần Trọng Kim. Tôi tin thế nào cụ Huỳnh cũng ra yết kiến Bác. Mà cụ đã gặp Bác thì cụ sẽ chấp nhận những việc Bác tin cậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- “Chúng tôi khẩn khoản mời cụ ra Hà Nội nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ” – một bức điện tiếp theo của Hồ Chí Minh. Lại một bức điện khác của ông Võ Nguyên Giáp, người đã từng làm báo Tiếng dân với Huỳnh Thúc Kháng, rất được cụ yêu mến: “việc đại nghĩa, xin cụ đừng bỏ qua. Hồ Chủ tịch mong được gặp cụ…”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giữa lúc ấy, một lá thư từ Tổng hành dinh của tướng Lư Hán gửi cho Hồ Chí Minh: “Kính mời Hồ Chí Minh tiên sinh quá bộ tới Tổng hành dinh của tôi để giải quyết vụ nhân viên công an VN bắn chết một Pháp kiều”. Thư tránh gọi chức vụ Chủ tịch của Hồ Chí Minh và lời lẽ trong thư vừa có vẻ là một “chỉ lệnh”, lại tỏ ra rất “thiên triều”, báo trước những khó khăn, nguy hiểm của cuộc gặp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các ông Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam – Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Lê Giản – Tổng Giám đốc nha Công an, Vũ Đình Huỳnh – bí thư của Hồ Chí Minh lập tức họp trong sự căng thẳng và thống nhất đề nghị Hồ Chí Minh cử đặc phái viên của Chủ tịch nước đến gặp Lư Hán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hồ Chí Minh:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nếu tôi không đến gặp nó, nó sẽ cho là chúng ta đã sợ nó và nó sẽ được nước, làm điều càn bậy hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nhưng Bác đến đó nguy hiểm vô cùng. Ông Giáp lo lắng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Có miếng võ hiểm cũng phải có miếng văn phá hiểm chứ. Hồ Chí Minh đáp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hồ Chí Minh dặn Vũ Đình Huỳnh, người bí thư tin yêu của mình trước khi lên xe:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Cả ngày hôm nay, chú không rời khỏi phòng này một lúc nào cả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các ông Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam, Lê Giản đầy lo lắng đưa chân Hồ Chí Minh ra xe. Cánh cửa xe lại mở, Hồ Chí Minh quay vào phòng, gọi điện thoại sang văn phòng ông Patti (tác giả cuốn Tại sao Việtnam?). Hồ Chí Minh đã nhiều lần tiếp chuyện Patti, từng nhờ ông chuyển thư tới Tổng thống Mỹ Tơruman. Lúc ra xe, nét mặt Chủ tịch nước đầy tự tin, thanh thản. Cuộc điện thoại đó chính là “miếng văn phá hiểm” của Chủ tịch nước mà ngay cả ông Giáp lúc đó cũng không đoán ra nổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xe vừa tới bậc thềm Dinh toàn quyền cũ, một tên sỹ quan liên lạc của Lư Hán tiếp ngay Hồ Chí Minh:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Thưa Hồ Chí Minh tiên sinh, tướng quân Lư Hán của chúng tôi bận việc, mời tiên sinh gặp tướng quân Tiêu Văn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thật là một sự xúc phạm. Nhưng Hồ Chí Minh thoát mình ngay khỏi sự tiểu khí của bọn giặc cỏ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nhờ ông chuyển lời chúc sức khỏe của tôi tới tướng quân tư lệnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xe lại đưa Chủ tịch nước đến gặp Tiêu Văn. Tay này rất căm tức Hồ Chí Minh. Nhớ lại khi Hồ Chí Minh bị bắt ở TQ năm 1944, y thả Hồ Chí Minh ra và bầu vào Uỷ viên ban chấp hành Việt Nam cách mạng đồng minh hội do y chủ trương thành lập. Rồi y cho Hồ Chí Minh về VN để làm việc cho y. Song, khi về nước, tất nhiên Hồ Chí Minh không đời nào làm việc cho y mà lo bắt liên lạc với các đồng chí của mình, làm cuộc Tổng khởi nghĩa thành công. Bây giờ, sang VN, Tiêu Văn kể “Hồ Chí Minh thập đại tội”, đòi “triệt Hồ Chí Minh”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trời đã xế chiều mà vẫn không có một tin tức gì của Hồ Chí Minh. Các ông  Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam, Lê Giản lo lắng, thấp thỏm. Đang lúc trù liệu căng thẳng thì ông Patti đến. Ông cho biết, ban sáng Chủ tịch nước gọi qua điện thoại mời ông chiều nay gặp nhau ở Bắc Bộ phủ. Ông Vũ Đình Huỳnh báo cho ông biết, sáng nay Chủ tịch nước đến Tổng hành dinh của Lư Hán theo lời mời của ông ta. Nhưng không rõ vì sao mà họ giữ Chủ tịch tại đó đến giờ này vẫn chưa về được. Vẻ bất bình hiện rõ trên mặt ông Patti. Ông nói, chúng tôi sẽ can thiệp ngay việc này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bây giờ, ông Huỳnh mới hiểu rõ, vì sao Hồ Chí Minh dặn ông cả ngày hôm nay không được rời phòng này một lúc nào cả. Và ông Võ Nguyên Giáp mỉm cười, “có miếng võ hiểm cũng phải có miếng văn phá hiểm chứ”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chủ tịch nước Hồ Chí Minh, con người giải quyết những tình huống phức tạp một cách thiên tài!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cho đến khi giặc đã đến nhà, Hồ Chí Minh vẫn ra đi tìm bạn. Lửa chiến tranh ngày một lan rộng, do bọn hiếu chiến trong Chính phủ Pháp gây nên. Nhưng Hồ Chí Minh bằng mọi cách cứu vãn hòa bình, dù chỉ có rất ít cơ hội. Hòa bình là nguyện vọng lớn nhất của nhân dân ta, nhưng phải là hòa bình trong độc lập, tự do! Chính phủ Pháp đã chấp nhận một cuộc hòa đàm tại Phôngtennơblô gần thủ đô Pari và mời Hồ Chí Minh là thượng khách sang thăm nước Pháp. “Giặc đã đến nhà, ta vẫn ra đi tìm bạn”…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi sang Pháp, Hồ Chí Minh đã giới thiệu Huỳnh Thúc Kháng làm Quyền Chủ tịch nước. Tại sân bay Gia Lâm, Huỳnh Thúc Kháng xúc động hỏi:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Cụ lên đường làm thượng khách nước Pháp mà quân xâm lược Pháp đang giày xéo nước nhà. Vắng Cụ khi có “vạn sự như lôi…” thì tôi hỏi ai?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Ông Võ Nguyên Giáp đã từng cộng sự với Cụ từ thuở làm báo Tiếng Dân. Hồ Chí Minh chìa tay sang Võ Nguyên Giáp đang đứng bên cạnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Xin Cụ cho anh em chúng tôi một lời khuyên…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Thưa cụ, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Và cụ Huỳnh sững sờ nhìn theo chiếc máy bay đưa Hồ Chí Minh lên đường đang giữa bầu trời…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;…Hội nghị Phôngtennơblô tan vỡ, với bản Tạm ước 14.9 trong tay, Hồ Chí Minh về nước trên chiếc Thông báo hạm Duymông Duyêcvin của Pháp. Thông báo hạm này đang chuẩn bị chở các thiết bị sang Đông Dương cho các lực lượng hải quân ở Viễn Đông thì nhận được một mệnh lệnh cấp tốc của Bộ chỉ huy Hải quân phải bốc dỡ tất cả các thứ hàng hóa dưới tàu lên bờ và đặt Thông báo hạm dưới sự điều động của Bộ Thuộc địa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chủ tịch nước dặn ông bí thư Vũ Đình Huỳnh:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Chú nhờ bà con việt kiều may cho một lá cờ Tổ quốc cỡ lớn và chú mang theo trong hành lý cầm tay của chú. Ông Vũ Đình Huỳnh ngạc nhiên nhìn Hồ Chí Minh. Có lúc chúng ta sẽ dùng đến – Hồ Chí Minh mỉm cười ý nhị.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tàu nhổ neo, lênh đênh trên biển. Hạm trưởng Ônây lúng túng khi vị Chủ tịch nước VN nêu vấn đề kéo quốc kỳ VN lên cột cờ hạm tàu cùng với quốc kỳ Pháp để hiểu rằng có vị nguyên thủ nước VN tự do đang hành trình trên tàu của Pháp. “Thưa Chủ tịch, tôi không được giao công việc này, để tôi điện về Pari xin chỉ thị” – Ônây đáp. Pari lập tức trả lời, đồng ý treo quốc kỳ VN, chỉ tiếc rằng, ở giữa biển lấy đâu ra lá cờ của VN? Ông Vũ Đình Huỳnh mở vali lấy ra lá cờ VN đưa cho Ônây trong sự ngạc nhiên tột độ của ông ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và lá cờ VN ấy, khi nào sẽ tung bay trên Hoàng Sa của chúng ta?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xem thêm:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://songviet.com/mlib/index.php?option=com_content&amp;amp;view=article&amp;amp;id=105:motcongiobui&amp;amp;catid=4:hoiky&amp;amp;Itemid=13"&gt;Một Cơn Gió Bụi - Lệ Thần Trần Trọng Kim&lt;br /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Trở về trang chính&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://cayluongthuc.blogspot.com/"&gt;CÂY LƯƠNG THỰC&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://foodcrops.vn/"&gt;FOOD CROPS&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim"&gt;Dạy và học ĐHNLHCM&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://dayvahoc.blogtiengviet.net/"&gt;Dạy và học BlogtiengViet&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://giadinhnongnghiep.wordpress.com/"&gt;Gia đình nông nghiệp&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com,/"&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM&lt;/a&gt;, &lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com/"&gt;DẠY VÀ HỌC&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6386160990305421427-1802470244401861510?l=danhnhanviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/feeds/1802470244401861510/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6386160990305421427&amp;postID=1802470244401861510' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/1802470244401861510'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/1802470244401861510'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/2011/10/anh-hung-ho-de-nen-nghiep-ay.html' title='Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy ?'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/-gXZW2s0Ah8k/Tq7BnAhHf5I/AAAAAAAAJEY/IjKcScbeF-g/s72-c/HoChiMinh.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6386160990305421427.post-4997324569363529105</id><published>2011-09-25T09:20:00.000+07:00</published><updated>2011-09-25T09:20:33.467+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Đọc Lữ Phương viết về thầy Giàu'/><title type='text'>Đọc Lữ Phương viết về thầy Giàu</title><content type='html'>&lt;div class="post-content"&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com/2011/05/12/nhan-d%e1%bb%8dc-l%e1%bb%af-ph%c6%b0%c6%a1ng-vi%e1%ba%bft-v%e1%bb%81-h%e1%bb%93i-ky%e2%80%8e-tr%e1%ba%a7n-van-giau/vo-nguyen-giap-tran-van-giau/" rel="attachment wp-att-1597"&gt;&lt;img src="http://hoangkimvietnam.files.wordpress.com/2011/05/vo-nguyen-giap-tran-van-giau.png?w=300&amp;amp;h=201" alt="" title="Vo Nguyen Giap Tran Van Giau" class="aligncenter size-medium wp-image-1597" height="201" width="300" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://danhnhanviet.blogspot.com/"&gt;DANH NHÂN VIỆT&lt;/a&gt;. Giáo sư Trần Văn Giàu là nhân vật lịch sử Nam Bộ, &lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com/2010/12/tri-tue-bac-thay-cua-cap-song-sinh-ky.html"&gt;cặp song sinh thế kỷ với đại tướng Võ Nguyên Giáp&lt;/a&gt; trong thời đại Hồ Chí Mính. &lt;a href="https://sites.google.com/site/hoangkimvietnam/system/app/pages/subPages?path=/tran-van-giau"&gt;Hồi ký Trần Văn Giàu là tác phẩm sẽ còn được nhiều người đọc lại&lt;/a&gt;.  Thời gian và sự khen chê không làm nhoà được dấu ấn của người đã góp  phần làm nên lịch sử, nghiên cứu và giảng dạy lịch sử. Bài viết của Lữ  Phương “Vài ghi nhận nhân đọc Hồi ký Trần Văn Giàu” có nhiều tư liệu quý  đáng đọc và suy ngẫm. Đoạn kết còn phải bàn thêm “Riêng với tôi …cho  đến hết”. Hình như vấn đề Nam Bộ và quy non sông về một mối, vấn đề lãnh  tụ và ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, chiến lược và sách lược, tổng thể  và vùng miền  … chưa được luận bàn thấu tình đạt lý để hiểu được uẩn  khúc lịch sử và đời người. Tôi nhớ bài thơ từ sách tuổi thơ  “Học đi em.  Học đi mà nhớ mãi. Quê hương ta một dãi. Từ mũi Cà Mau, đến địa đầu  Móng Cái. Quê hương ta. Đồng ruộng phì nhiêu. Đủ bốn mùa hoa trái. Núi  Trường Sơn vĩ đại. bờ biển rộng bao la. Có Việt Bắc, mồ ma giặc Pháp ,  nối liền Đồng Tháp Nam Bộ Thành Đồng…”. Lịch sử cần sự thật và suy ngẫm.Cuộc đời và nhân cách của bác Giáp, của thầy Giàu "dĩ công vi thượng", đức độ, tài năng là bài học lớn, rất lớn  (Hoàng Kim)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;VÀI GHI NHẬN NHÂN ĐỌC HỒI KÝ TRẦN VĂN GIÀU&lt;/strong&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Lữ Phương&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi mất vào năm 100 tuổi (1911-2010), ông Trần Văn Giàu nổi danh như  một nhà giáo dạy lịch sử. Nhưng với bản thân lịch sử thì ông cũng đã nổi  tiếng từ lâu như một người đã tổ chức thành công cuộc khởi nghĩa tháng  8-1945 ở Nam bộ, và cũng trong quá trình lãnh đạo cuộc khởi nghĩa này  ông cũng nổi tiếng cả với những đồn đãi rất xấu cho uy tín chính trị của  ông. Mục đích hồi ký[1] của ông là nhằm xoá đi cái màn sương mờ đục phủ  lên đoạn đời ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa phức tạp đó – 1940 -1945 –, kể  lại một cách chi tiết toàn bộ quá trình ông lãnh đạo cuộc khởi nghĩa  tháng 8 nói trên ở Nam kỳ, góp tài liệu làm sáng tỏ một vấn đề lịch sử  hiện đại của Việt Nam, nhưng đồng thời cũng nhằm mục đích phơi bày sự  thật về những kẻ mà ông cho rằng đã dùng những thủ đoạn tồi tệ để bôi  nhọ ông, làm ông khổ sở, cho mãi đến cuối đời. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;***&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta đều biết Trần Văn Giàu là một người cộng sản thuộc thế hệ 30  của thế kỷ trước. Một trong những nhà mácxit đầu tiên của Việt Nam thời  bị thực dân đô hộ. Dự tính sang Pháp du học để trở thành một trí thức  khoa bảng, ông lại bỏ ngang, gia nhập Đảng cộng sản Pháp và được Đảng  này giới thiệu qua học trường Stalin ở Nga (cũng gọi là Đại học Phương  Đông, từ tháng 5-1931 đến tháng 8-1932). Chủ nghĩa Marx mà ông tiếp thu  vào thời kỳ này là hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa đặc trưng Liên xô gọi là  học thuyết “Mác-Lênin”, có nguồn từ Lenin nhưng dần dà suy thoái qua  những luận giải của Stalin: hạ triết học Marx xuống thành một thứ cẩm  nang thực dụng, một công cụ phục vụ chế độ toàn trị, coi Liên xô là  trung tâm cách mạng vô sản toàn cầu, Đệ tam Quốc tế do Liên xô lãnh đạo  là chỗ dựa vững chắc nhất của phong trào giải phóng dân tộc… Do nguồn  gốc đào tạo này, lại hoạt động ở miền Nam, không giao lưu trực tiếp với  Trung quốc, nên tư duy cách mạng vô sản của ông mang đậm sắc thái  bôn-sê-vích kiểu Nga, không giống các đồng chí của ông ở miền Bắc, bị  tác động khá mạnh lý luận cách mạng Trung quốc của Mao Trạch Đông. Một  cách tự nhiên, theo phong trào cộng sản thế giới lúc bấy giờ ông tin  tưởng vô điều kiện rằng Liên xô là một mô hình mácxit đích thực duy  nhất, hiển nhiên vì thế mà xem Đệ Nhị Quốc tế là bọn phản bội xấu xa còn  bọn Đệ tứ là kẻ thù nội tại nguy hiểm không kém gì đế quốc tư bản.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chính ông đã nhận rằng quan điểm cách mạng của ông bấy giờ có phần  nghiêng về tả khuynh, ảnh hưởng mạnh mẽ từ Đại hội 6 Quốc tế Cộng sản.  Ông cũng nhận thêm rằng chính vì vậy mà suốt một thời gian dài ông không  quan tâm đến Nguyễn Ái Quốc[2] – người mà chúng ta biết tư duy cách  mạng đã bắt nguồn từ Đại hội 5 QTCS (1924) và Đại hội 7 QTCS (1935),  không tham dự Đại hội 6 QTCS (1928)[3]– và thái độ đó của ông chỉ thay  đổi khi ông gặp Nguyễn Ái Quốc khi đã về nước lãnh đạo và mang tên Hồ  Chí Minh. Điều này không được ông Giàu trình bày trong hồi ký nhưng được  phân giải khá thành thật ở một nơi khác.[4]&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Môi trường hoạt động của Trần Văn Giàu khá đặc biệt. Hồi ký cho biết  cuộc đời “cách mạng chuyên môn” của ông bắt đầu khi tốt nghiệp Đại học  Stalin về nước (vào năm 1933): do xứ ủy cũ vừa bị thực dân phá tan, ông  đã phải lo xây dựng ngay xứ ủy mới trong một hoàn cảnh mà ông diễn tả là  “Trung ương không có” nên “phải vạch lấy con đường mà đi”. Công việc ấy  chưa đến đâu thì ông bị bắt. Lần thứ nhất 1933, một năm thì được tha,  nhưng lần thứ hai vào 1935 trầm trọng hơn. Bị kết án 5 năm (và 10 năm  quản chế), ông không thể tham gia cuộc đấu tranh trên mặt trận báo chí  và nghị trường diễn ra công khai ở các đô thị thời Mặt trận Bình dân từ  1936 dến 1939, nếu có hưởng được dư vang gì của phong trào này chỉ là  sống được dễ dãi hơn khi ở tù. Đúng hạn 5 năm, về sum họp gia đình chưa  đến chục ngày, khi Chiến tranh Thế giới II nổ ra, tất cả mọi hình thức  hoạt động yêu nước không-cộng sản hoặc cộng sản (dù Đệ tam hay Đệ tứ)  đều bị thực dân coi là bất hợp pháp, nên ông đã bị gom ngay vào “căng”  Tà Lài (nơi giam giữ những phần tử bị nghi ngờ). Nhưng cũng từ khu rừng  miền Đông Nam bộ này cuối năm 1941, ông đã tổ chức vượt ngục thành công  để trở lại hoạt động. Và lần này, trong điều kiện khó khăn hơn trước gấp  bội: cuộc khởi nghĩa Nam kỳ vào cuối năm 1940 do Trung ương lãnh đạo  vừa thất bại tan tác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Qua những tài liệu liên quan, chúng ta biết rằng do đánh giá tình  hình không chính xác, kế hoạch bị lộ do có nội gián, đặc biệt là sự liên  lạc giữa trung ương và địa phương khó khăn, lệnh đình chỉ cuộc khởi  nghĩa đến không kịp, sự thất bại đó đã dẫn đến những hậu quả thảm hại  chưa từng có cho Đảng cộng sản. Cuộc nổi dậy bị dìm trong bể máu của  hàng nghìn người, những ai sống sót đều thu mình lại trong hoài nghi, bi  quan, bất động; trong khi đó hầu hết các cán bộ lãnh đạo kỳ cựu quan  trọng của Đảng đều bị bắt và bị giết (như Tạ Uyên, Hà Huy Tập, Nguyễn  Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai…), hoặc bị đi tù  (Lê Hồng Phong [chết ở Côn Đảo năm 1942], Lê Duẩn, Dương Bạch Mai,  Nguyễn Văn Tạo…). Ông Giàu đã vượt “căng” Tà Lài trong tình thế đó và đã  phải bắt đầu mọi việc như hồi 1933: làm lại cuộc cách mạng không có sự  lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng. Do bị tách rời khỏi mọi hoạt  động bên ngoài khá lâu, lại thừa kế một khoảng không về tổ chức, ông  không có cách gì để biết được xứ ủy Nam kỳ cũ còn tồn tại hay không,  cũng như không thể biết Trung ương có còn tồn tại hay không, do đó cũng  không hề biết được ngay vào năm ông tổ chức vượt ngục, lãnh tụ Nguyễn Ái  Quốc đã từ Trung quốc về nước tham dự hội nghị Trung ương lần thứ 8 ở  Cao Bằng (tháng 5-1941) để thành lập Mặt trận Việt Minh – điều mà trong  hồi ký của mình, ông Giàu cho biết đến mãi sau ngày 2 tháng 9 năm 1945,  khi cách mạng tháng 8 thành công rồi ông mới có được thông tin cùng một  lượt với việc nối lại quan hệ với Trung ương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự mình đảm nhận vai trò lãnh đạo trong hoàn cảnh đó, những gì ông  đem ra vận dụng đều dựa vào những điều đã học được tại trường Stalin  khoá 1931-1932. Lòng tin vào cách mạng của ông đã đi theo bước chân của  Hồng quân Liên xô chống phát xít Đức trong Chiến tranh Thế giới lần thứ  hai. Sách gối đầu giường của ông về hoạt động là những gì Lenin viết về  cuộc khởi nghĩa Petrograd 1917, có lẽ vì vậy mà ông tỏ ra không mấy quan  tâm đến những thứ lý luận đặc trưng Trung quốc do Mao Trạch Đông xướng  xuất, như lấy nông thôn bao vây thành thị, chiến thuật biển người, chiến  tranh du kích, văn nghệ công nông binh kiểu Diên an, rồi sau này là cải  cách ruộng đất, chỉnh phong, chỉnh huấn v.v… Ông Giàu cho rằng phương  pháp giành quyền lực cho Đảng cộng sản chỉ có thể thực hiện được bằng  cách chuẩn bị thật đầy đủ những chỉ dẫn của Lenin, diễn ra dưới hình  thức vũ trang của đông đảo quần chúng tại chỗ được chỉ đạo đồng loạt  tiến lên chiếm lĩnh các cơ quan đầu não của nhà nước thống trị, chứ chủ  yếu không phải từ ngoài đánh vào, từ xa vận động tới. Ông cho rằng chính  đây là định hướng cốt tử để tập trung kế hoạch xây dựng lực lượng thật  vững mạnh ngay tại những xí nghiệp, những công sở, những cơ quan yết hầu  chiến lược của các thành phố, thị xã… và trong khi nắm vững trọng tâm  hoạt động, nếu có quan hệ gì đến nông thôn thì chỉ nên khai thác các  vùng phụ cận thành thị để yểm trợ, phối hợp như cất giấu, chế tạo vũ  khí, huấn luyện, hội họp, dự trữ, tiếp tế… và cuối cùng trong cao trào  nổi dậy sẽ kéo lực lượng ven đô về cùng tác chiến chung với các trung  tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông Giàu cho biết, trong các văn bản của Đảng Việt Nam, ông chỉ dựa  vào Nghị quyết lần thứ 6 của Trung ương họp tại Bà Điểm cuối năm 1939,  do tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì. Nhưng hoàn cảnh tiếp cận văn bản  đó thật li kỳ: hồi còn ở Tà Lài ông chỉ nghe qua do các bạn tù phổ biến,  nay muốn nghiên cứu lại thì sau khi hỏi han không gặp được ai nhớ lại  cho đầy đủ, cuối cùng mới may mắn tìm được một số đoạn chép tay rời rạc  giấu trên mái lá của chuồng trâu trong nhà một đồng chí quen biết! Cố  gắng tiếp thu cái thần của nó rồi đem so sánh với những điều mà ông biết  trước đó, ông nhận thấy đã có sự di chuyển quan trọng về chỉ đạo chiến  lược: trong hai nhiệm vụ phản đế và cải cách điền địa của cách mạng tư  sản dân quyền do giai cấp vô sản lãnh đạo, thay vì nghiêng về hướng cải  cách điền địa như nhiều năm trước đây, Nghị quyết 1939 đã đưa vấn đề  chống đế quốc lên hàng đầu, coi đó như nhiệm vụ “chính cốt”. Điều này  phù hợp hoàn toàn với tình thế bấy giờ ở Việt Nam, khi chiến tranh nổ ra  đẩy các thế lực đế quốc vào chỗ suy yếu tạo điều kiện cho các thuộc địa  vùng lên giành độc lập và gác lại các vấn đề khác của cách mạng vô sản.  Nhận định này của Trần Văn Giàu, tuy không được chỉ đạo của Trung ương  nhưng cũng phù hợp với Nghị quyết của Trung ương tháng 5-1941, coi thời  cơ giành độc lập đã đến, chủ yếu khai thác triệt để sự xâu xé lẫn nhau  giữa Pháp và Nhật, biểu hiện rất rõ qua chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và  hành động của chúng ta” và đã lãnh đạo thành công khởi nghĩa ở Bắc và  Trung.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xứ uỷ Nam kỳ – do ông vận động thành lập vào tháng 10 năm 1943 và  được bầu làm bí thư –, vì cách bức về liên lạc, không nhận được bất cứ  chỉ thị nào của Trung ương, nhưng cũng đã nhìn thấy cơ hội đó, để có  những hành động thích hợp và đã thành công. Điều đó đã biểu hiện rõ ràng  qua nhận thức của ông Giàu trong việc xác định “đối tượng trực tiếp” mà  khởi nghĩa cách mạng cần đánh đổ ở Nam kỳ: đó sẽ không phải là thực dân  Pháp (vì đã bị Nhật tước khí giới) cũng không phải là phát xít Nhật (vì  Nhật đã đầu hàng) mà là “chính quyền bù nhìn” do Nhật dựng nên, mà  chính quyền này lại “đang rệu rã và không có ý chí đề kháng đáng kể”,  cho nên nếu trung lập hóa được quân Nhật thì việc đánh đổ chính quyền ấy  “sẽ thành công nhanh chóng và không gặp khó khăn gì lắm”. Phân tích ấy  của ông Giàu xác nhận rằng tương quan lực lượng đã thay đổi hoàn toàn có  lợi cho cách mạng. Và điều đó hàm nghĩa rằng các đảng phái, tôn giáo  phi cộng sản, dù có quần chúng và vũ khí, xưa nay thường dựa vào phát  xít và thực dân để hoạt động nay hoàn toàn thất thế. Vấn đề chỉ còn là  thời cơ và thời cơ cũng đã đến như một món quà giúp những chuyên viên  nổi dậy mở màn và chấm dứt cuộc giành chính quyền nhanh chóng và không  mấy khó khăn: nghìn năm có một, một khoảng trống về quyền lực nhà nước  đã xuất hiện, khi cuộc đảo chính ngày 9-3-1945 của Nhật đối với Pháp  diễn ra rồi sau đó không lâu Nhật phải đầu hàng vô điều kiện (14-8-1945)  vì hai trái bom nguyên tử của Mỹ.   &lt;/p&gt;&lt;p&gt;***&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông Giàu cho rằng những cố gắng của ông dù sao cũng chỉ là những mò  mẫm “bất đắc dĩ”, không tránh khỏi sai biệt và cả sai lầm khi so với  đường lối của Trung ương. Đọc hồi ký ông viết, không thấy ông nói đến  những sai lầm, cũng không thấy nhắc đến những điều ông bị Trung ương phê  phán một cách chính thức, nhưng chỉ thấy ông nói đến những sai biệt và  cho rằng những sai biệt ấy là sự vận dụng những nguyên lý vào những điều  kiện khác nhau, vấn đề là xét xem sự vận dụng ấy có mang đến thành công  hay không. Biện luận này của ông đã được thực tế xác nhận qua những  chuẩn bị chu đáo của xứ uỷ Nam kỳ về mặt chủ quan để đón nhận những  thuận lợi do thời cơ mang đến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tuy vậy, khi đem đường lối mà ông Giàu áp dụng ở miền Nam, so với  đường lối Trung ương để xét vấn đề một cách tổng thể, chúng ta thấy  nhiều so le quan trọng, quan trọng nhất là thiếu một nội dung cụ thể để  hình thành mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc trong tình hình đặc  biệt của Việt Nam vào lúc bấy giờ. Mọi người đều biết, trong khi Trung  ương, chủ trương cố ý che giấu bớt nguồn gốc cộng sản của chính quyền  mới thành lập (sau đó không lâu đã phải công khai tuyên bố giải tán Đảng  để đưa vào bí mật) thì trong cuộc diễu hành 2 tháng 9 ở Sài gòn, như  ông Giàu đã mô tả trong hồi ký, cờ búa liềm lại quá nặng vì quá lớn khi  được dương lên! Mọi người cũng đều biết, trong tình thế bị cách biệt  hoàn toàn với với “phe dân chủ ” (cách mạng Trung quốc chưa thắng lợi),  lại bị đủ loại thế lực chống cộng sản (trong và ngoài) bao vây tứ phía  và thực dân Pháp thì chuẩn bị trở lại phục hồi sự thống trị bằng vũ lực,  Trung ương đã chủ trương hoà hoãn, thương lượng bằng nhiều cách để  chuẩn bị đối phó thì trong Nam ông Giàu, mặc dầu hiểu rõ sự cần thiết  của Mặt trận, nhưng vẫn cứ bám chặt vào những chuẩn mục cách mạng vô sản  mà Lenin đã áp dụng ở Petrograd, qua đó phân tuyến ta địch để xử lý các  vấn đề nẩy sinh, nhất là trong nội bộ dân tộc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trước những khác biệt về chủ trương chiến lược đó, thái độ của ông  Giàu với một số cán bộ lãnh đạo Trung ương, đặc biệt với Hoàng Quốc Việt  là người đại diện của Trung ương được cử vào Nam sau ngày 2-9-1945, có  nhiều điều phức tạp hơn những gì ông đã viết. Không phải ông không đúng  khi cùng với Phạm Ngọc Thạch phản đối lệnh của Hoàng Quốc Việt giải tán  Thanh niên Tiền phong vì tổ chức này thực chất do xứ uỷ lập ra nhờ khôn  khéo tranh thủ được sự đồng ý của Nhật, dùng làm bình phong tập hợp một  cách rộng rãi công khai và các tầng lớp quần chúng chuẩn bị cho khởi  nghĩa và thực tế đã đóng vai trò cực kỳ lợi hại trong khởi nghĩa. Sự  phẫn nộ của ông Giàu cũng chính đáng khi thấy Hoàng Quốc Việt đứng ra  xin tha cho Trần Văn Vi vì ông này trong khi được xem là nhân vật số 1  của xứ uỷ Giải phóng lại chính là người, theo sự trình bày của ông Giàu,  “đã dẫn đầu mấy ngàn tín đồ Hoà Hảo có vũ trang kéo vào Cần Thơ, tháng 9  năm 1945, đòi nắm chính quyền trên 7 tỉnh miền Tây Nam Bộ”. Chúng ta  không có điều kiện để biết lý do hành động thật sự của Hoàng Quốc Việt,  nhưng giả định sự trình bày của ông Giàu là đúng trong những trường hợp  nói trên, thì một cách khách quan cũng không vì thế mà có thể cho rằng  trong rất nhiều trường hợp thái độ của ông Giàu là đúng hoàn toàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy thử so sánh chủ trương của xứ uỷ Nam kỳ qua ứng xử của Trần Văn  Giàu với ứng xử của Trung ương qua hành động của Hồ Chí Minh – thí dụ  đối với vua Bảo Đại, với phe Tàu Tưởng (có cả những lực lượng bản xứ  tùng theo để chia quyền với cộng sản) sang Việt Nam giải giới quân Nhật,  với việc thương lượng với thực dân Pháp để có thời gian chuẩn bị cho  cuộc tranh đấu mới … – thì không thể cho rằng ý kiến của Hoàng Quốc  Việt, với tư cách đại diện của Trung ương, là sai lầm trong mọi trường  hợp. Nhất là những ứng xử liên hệ đến sách lược liên minh hành động với  những thế lực bản địa (như với phe Hoà Hảo và Đệ Tứ…) hoặc các quyết  định có ảnh hưởng tới cuộc chiến đấu toàn cục (như phát lệnh kháng chiến  toàn quốc). Nhìn chung, ta có thể cho rằng nếu đường lối của xứ uỷ Nam  kỳ do ông Giàu lãnh đạo đã sáng tạo ra những hình thức táo bạo, linh  hoạt, tạo được sức mạnh vượt qua các phe phái (thân Nhật, phi cộng hoặc  chống cộng) để tiến lên giành quyền lực cho cách mạng thì xét trên tổng  thể và lâu dài lại không hoàn toàn thích đáng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ý nghĩa của đường lối ấy chỉ tỏ ra có hiệu lực tích cực vào một thời  cơ đặc biệt thuận lợi nào đó về mặt chiến thuật, ở đó cuộc khởi nghĩa có  điều kiện phát triển tốt nhất và kết thúc nhanh chóng nhất ngay tại các  trung tâm đầu não của địch theo mô hình Petrograd – nói cụ thể là vào  khoảng từ 9-3-1945 (ngày Nhật đảo chánh Pháp) đến 14-8-1945 (ngày Nhật  đầu hàng đồng minh), chứ không thể vượt khỏi thời điểm ấy để trở thành  định hướng cho cả giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ chống đế quốc mà  nội dung của nó đã được khẳng định từ lâu về mặt lý luận là cuộc cách  mạng tư sản dân quyền trong đó mặt trận dân tộc thống nhất là công cụ  quyết định để Đảng cộng sản tập hợp lực lượng thực hiện các chương trình  tối thiểu của mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;***&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi nhìn lại mọi việc, chắc hẳn ông Giàu biết rõ điều đó và cũng chỉ  muốn Trung ương Đảng thông cảm với tinh thần trách nhiệm cách mạng cao  nhất của ông trong những giới hạn của hoàn cảnh mà ông không thể vượt  qua, quan trọng nhất là không thể liên lạc được với Trung ương trong  suốt quãng thời gian nói trên. Tuy vậy khi đọc hồi ký của ông chúng ta  lại thấy ông tỏ ra khá bực bội với “mấy ông lớn trong Trung ương”, trong  đó có Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt, nguyên nhân như ông trình bày là  do ông nghĩ rằng mấy “ông lớn” đó, đặc biệt Hoàng Quốc Việt, đã đứng  hẳn về phía những kẻ đã đặt điều vu cáo cho ông nhiều tội lỗi tầy đình  nên luôn luôn tỏ ra thành kiến và đánh giá ông một cách không công bằng,  ngay trong những ngày diễn ra cách mạng tháng 8 và cả về sau này nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hồi ký của ông đã để ra nhiều đoạn nói đi nói lại nhận định này mà  theo sự trình bày của ông là hoàn toàn bất công và sai sự thật, bao gồm  mấy việc quan trọng như sau: 1935, bị bắt ông đã đầu hàng và khai báo  một đảng viên cộng sản Pháp có nhiệm vụ liên lạc với Đông Dương; 1941  ông được Pháp tổ chức cho vượt “căng” Tà Lài để ra ngoài giả bộ hoạt  động cách mạng nhưng thật sự là “phá cộng sản”; 1944 không hiểu sao  người ta lại cho rằng ông đã chỉ điểm một đồng chí ở Trung ương được cử  vào Nam để điều tra “vụ Trần Văn Giàu”; 1945 theo Nhật lập ra Thanh niên  Tiền phong và lấy “cờ vàng sao đỏ” làm biểu tượng cho tổ chức này để  đối lại với “cờ đỏ sao vàng” của Việt Minh. Còn nhiều chuyện khác nữa  nhưng kết lại mọi việc đều quy về một tội khủng khiếp đối với một người  Việt Nam và hơn nữa một người Việt Nam theo nghề “cách mạng chuyên môn”:  đó là tội thoả hiệp có hệ thống với các loại kẻ thù của dân tộc, từ Tây  đến Nhật, để bán đứng đồng chí và phá hoại cách mạng. Một cái tội như  vậy thật đáng chết, như phe xứ uỷ Giải phóng đã từng tuyên án đối với  ông, thực chất chỉ là hoàn toàn vu cáo, vậy mà sau này khi ra công tác ở  chiến khu Việt Bắc 1951, ông đã bị Hoàng Quốc Việt dựa vào đó để hỏi  cung suốt một buổi tối chỉnh huấn, có một anh cố vấn Tàu “trẻ bân” ngồi  nghe bên cạnh một tay phiên dịch!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đối với một người cộng sản kỳ cựu như ông, những cung cách ứng xử  miệt thị và nghi ngờ ấy là cực kỳ đau đớn, nhục nhã cho nên sau nhiều  lần muốn chết đi cho xong, ông đã gượng dậy, quyết chí bỏ công đi tìm  nhân chứng, hồ sơ, lật lại các sự việc để minh oan cho mình, kết quả là  trong rất nhiều trang hồi ký từng việc một đã được xới lại và xuất hiện  trở lại với những chi tiết thực sự của chúng. Tất cả đều chứng minh là  ông vô tội. Tất cả đều được ông kết luận là do sự vu cáo của hai nhân  vật trong xứ uỷ Giải Phóng tên là Trần Văn Vi và Bùi Văn Dự mà ra. Chính  những kẻ xấu này đã tìm cách vu cáo ông tạo nên nghi kị của Trung ương  với ông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vấn đề “hai xứ uỷ”[5] trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám ở Nam bộ chủ  yếu với hai nhân vật Trần Văn Vi và Bùi Văn Dự nói trên (ông Giàu không  kéo vào đây một số nhân vật khác) vì vậy đã trở thành đầu mối gây nên  oan khuất cho ông. Theo sự trình bày của ông thì cái gọi là xứ uỷ Giải  phóng này chỉ bao gồm một số phần tử rất ít của xứ uỷ cũ còn sót lại sau  cuộc khởi nghĩa thất bại năm 1940, không hoạt động gì cả mà chỉ nằm im  chờ thời. Sau khi ông Giàu lập ra xứ uỷ mới (tháng 10-1943) và hoạt động  một thời gian, đến tháng 4-1945 (sau Nhật đảo chánh) thì từ “căng” Bà  Rá trở về, Trần Văn Vi mới cho khôi phục lại xứ uỷ cũ ở Mỹ Tho, có Bùi  Văn Dự làm phó ( và vì có cơ quan tuyên truyền mang tên Giải phóng, nên  gọi là “xứ uỷ Giải phóng” để phân biệt với xứ uỷ do ông Giàu lập ra mang  tên “xứ uỷ Tiền phong” vì có tờ báo mang tên Tiền phong). Nghe biết  việc này ông Giàu đã tìm cách gặp họ để đặt vấn đề thống nhất nhưng  không có kết quả sau nhiều lần thương lượng; và lý do họ nêu ra để không  thể hợp tác được với Trần Văn Giàu là vì Trần văn Giàu là một Việt gian  phản cách mạng với nhưng tội lỗi đã kể trên, đính chính thế nào họ cũng  không nghe. Trong hồi ký, sau khi ngẫm nghĩ cả một đời, ông Giàu vẫn  viện ra ác ý, lòng đố kị tầm thường của con người để giải thích sự vu  cáo đó. Ông nói rằng nếu như mình là một anh bí thư của một chi bộ xã ở  một xó Đồng Tháp Mười nào đó thì chẳng sao, nhưng đằng này ông lại là bí  thư xứ uỷ lừng lẫy tên tuổi và tài năng nên mới bị ganh ghét, như ý  nghĩa một câu Kiều: chữ tài liền với chữ tai một vần! Có chỗ ông nại  thêm lý do: trong khi ông tìm mọi cách mà không gặp được Trung ương để  giải thích thì do họ liên lạc được nên họ mới có cơ hội để gièm pha làm  cho Trung ương hiểu sai về ông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giả sử như tin vào những gì ông Giàu trình bày chúng ta không thể  không nêu ra câu hỏi sau đây: tại sao với một sự vu cáo tầy trời như vậy  mà nhiều lần cho điều tra, Trung ương vẫn cứ tin vào lời lẽ vô lý,  thiếu bằng cớ của những kẻ cố ý hại người đó? Nhất là dễ tin đến mức  suốt trong một thời gian dài, trong khi vẫn tiếp xúc với phe Giải phóng  để nghe họ thì Trung ương lại cố tình né tránh không liên lạc trực tiếp  với ông để làm cho ra lẽ? Ông cũng cho biết từng đưa nhiều người ra Bắc  liên hệ để tường trình mọi việc nhưng kết quả lại tồi tệ hơn: cuối cùng  Hoàng Quốc Việt đại diện Trung ương vào Nam không phải để giải oan hoặc  xử lý ngay cho ông mà phải sau một thời gian xảy ra bất đồng rồi mới kết  luận rằng Trần Văn Giàu “vô kỷ luật, vô chính phủ” phải được (cùng với  Phạm Ngọc Thạch) đưa ra Bắc!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;***&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta cảm động khi đọc những lời thống thiết của một người viết  hồi ký mà mục đích không có gì hơn là muốn đòi lại sự thật cho mình để  được thanh thản ra đi vĩnh viễn, nhưng rất ngần ngại khi xem những lý  giải của ông về những oan khuất mà ông phải chịu đựng là hoàn toàn thoả  đáng. Ông đã nhập hai vấn đề làm một: một bên là những lời vu cáo giả  định đến từ những kẻ ganh ghét ông và một bên là những sai biệt, có thể  nói cả những bất đồng, của ông với Trung ương và bị Trung ương phê phán.  Thực sự đó là hai vấn đề mà cái logic toát ra từ những gì ông viết  trong hồi ký đã cho chúng ta thấy như vậy: hai vấn đề dó khác nhau, mỗi  vấn đề có những tính chất riêng, có quan hệ với nhau nhưng không đồng  nhất. Vấn đề khác biệt về đường lối giữa xứ uỷ Nam kỳ với Trung ương đã  được nói ở trên: nó bộc lộ thật rõ trong quan điểm lý luận về cách mạng  dân tộc dân chủ giữa hai bên và cả trong việc ông Giàu bày tỏ quyết liệt  sự bất đồng của mình với Hoàng Quôc Việt sau ngày 2 tháng 9 ở Sài gòn  trong một số chủ trương cụ thể. Những sai biệt và bất đồng này là có  thật, phần lớn do hoàn cảnh khách quan quy định, không thể dựa hoàn toàn  vào những tị hiềm cá nhân để giải thích.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Còn về những ân oán giữa ông và mấy nhân vật của xứ uỷ Giải phóng có  thể cũng không hoàn toàn đơn giản như ông diễn giải. Những điều mà họ  vu cáo cho ông cực kỳ trầm trọng, trong thực tế chỉ là những tin đồn. Có  thể do ganh ghét cá nhân mà bịa ra nhưng vẫn chỉ là tin đồn, không thể  bỗng dưng dựng nên những chuyện động trời như vậy mà có thể làm hại ngay  được người ta, bằng cớ là uy tín của ông – trừ việc bị phe chống đối  bên ngoài bôi nhọ (cho đến nay vẫn bị những chuyên viên chống cộng tiếp  tục khai thác) –, lại không hề sứt mẻ đối với quần chúng, với các đồng  chí của ông trong xứ uỷ do ông lãnh đạo, với cả những người từ chối  “khử” ông khi được phe Giải phóng xúi giục, do đó việc chuẩn bị cuộc  khởi nghĩa cho đến ngày thành công đã không bị ảnh hưởng. Phân tích theo  một hướng khác, cũng có thể xem những tin đồn ấy đã bắt nguồn từ những  sự kiện đáng nghi ngờ mà vì một lý do nào đó, chưa thể xác minh hoặc xử  lý nên có thể kéo dài trong dư luận, khiến những mơ hồ ban đầu trầm  trọng thêm vì những đồn đãi mới, những yếu tố mới nẩy sinh trong đó  không thể không nói đến những bất đồng về quan điểm giữa các nhóm khác  nhau trong bản thân hàng ngũ cách mạng trước tình hình mới ở Nam bộ,  nhất là trong điều kiện thiếu vắng sự lãnh đạo trực tiếp của Trung  ương.[6]&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù sao thì tạm gác lại những khía cạnh phức tạp khác của vấn đề chưa  có điều kiện để làm rõ ở đây (nhất là quan điểm đầy đủ và khách quan của  nhóm “Giải phóng”) mà chỉ xét chuyện họ quy tội ông Giàu, chúng ta thấy  trong tất cả các thứ mà họ nêu ra đều liên hệ đến chuyện “làm tay sai  cho địch”, thật ghê gớm đối với nội bộ những người cộng sản, nhưng nhìn  sâu vào hiện tượng thì trong đó lại có những chuyện ai cũng có thể nhận  ra sự phi lý của chúng và có thể phủ nhận hết sức dễ dàng – như ông Giàu  đã làm – vì có rất nhiều người hợp tác với ông, biết rõ sự việc vẫn còn  sống và đang giữ những chức vụ quan trọng có thể viện ra làm nhân chứng  (như trong chuyện vượt “căng Tà Lài”, chuyện “cờ vàng sao đỏ” của Thanh  niên Tiền phong…). Tuy vậy trong những tố cáo lại có một chuyện khởi  đầu hơi mập mờ đó là việc năm 1935 một đảng viên cộng sản Pháp làm nhiệm  vụ liên lạc với Đông Dương tên là Deschamps bị bắt sau khi ông Giàu đi  tù không lâu, từ đó sinh ra nghi vấn đây đó về việc người đảng viên liên  lạc bị bắt là do ông Giàu khai báo. Ông cho đó là không đúng nên sau  này đã tìm ra mọi bằng cớ chứng minh được rằng kẻ khai báo Deschamps là  một nhân vật khác, không dính dáng gì đến ông. Nhưng vào lúc bấy giờ,  phần ông thì tiếp tục ở tù (5 năm), phần “đoàn thể” của ông thì vì hoạt  động trong bí mật, cách bức, chưa có cơ hội để thẩm tra, cho nên mọi  việc đã trở thành tiếng đồn treo lở lửng trên số phận chính trị của ông,  rất dễ để những người ganh ghét hoặc bất đồng với ông khai thác. Tiếng  đồn đó là có cơ sở trong thực tế chứ không phải vu vơ. Nếu Trung ương có  bị tác động bởi những báo cáo loại này từ nguồn tin của “phe Giải  phóng” thì cũng chỉ là những thông tin để cảnh giác và điều tra chứ  không thể để tuỳ tiện và dễ dàng kết luận như ông đã suy luận rằng “các  ông lớn Trung ương” đã đứng về phe bên kia để “trù” ông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong phần cuối của hồi ký, ông Giàu có kể một sự kiện chứng tỏ nhận  xét trên đây là có cơ sở: đó là việc đầu năm 1988 ông được Lê Đức Thọ –  mệnh danh lão Sáu Búa lừng danh mà chỉ nghe tên ai cũng ớn – mời cơm  cùng một số đồng chí lão thành tại Sài gòn, nhân đó ông có đề nghị Lê  Đức Thọ khi về Hà Nội can thiệp với Ban tổ chức Trung ương ra văn bản  khẳng định tính chất không có cơ sở của những vu cáo về ông bấy lâu nay.  Lời đề nghị được chấp nhận và một tháng sau ông Giàu nhận được quyết  nghị do Nguyễn Đức Tâm (đang làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương thay Lê  Đức Thọ) ký, trong đó có những xác nhận làm ông hài lòng, duy chỉ có vụ  Deschamps 1935 thì vẫn quy trách nhiệm cho ông. Tất nhiên ông Giàu khiếu  nại vì ông vẫn cho là mình vô tội, mặc dù những gì ông kể trong hồi ký  về vụ này còn có nhiều chỗ mập mờ (nhất là việc ông nhận khi bị bắt có  khai này nọ, chứ không kiên cường được như Trần Phú) làm người ta có thể  suy diễn vấn đề theo hướng khác. Dù sao với một nhà cách mạng trung  kiên như ông thì một cái kết thúc như vậy cho cả một đời buồn phiền vì  tai tiếng cũng có thể gọi được là thắng lợi “về cơ bản” rồi. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;Điều đó chứng tỏ rằng, nếu có bị Trung ương phê bình thì những phê  bình ấy chủ yếu không hề phát xuất từ mấy chuyện ông bị vu cáo đã bán  mình cho Tây, cho Nhật: mấy chuyện động trời này mà lúc bấy giờ bị Trung  ương cho là cần xử lý thì đời ông chắc hẳn đã chuyển sang hướng khác  hoàn toàn rồi. Trái lại, sau ngày 2 tháng 9, 1945, sau khi bị Hoàng Quốc  Việt ngưng chức xứ uỷ Nam kỳ, chuyển ông ra Bắc gặp Trung ương (chắc  chắn là để kiểm điểm), khi ông đề đạt nguyện vọng được sang Mặt trận  Biển Hồ (Campuchia) hoạt động tiếp tế cho kháng chiến Nam bộ thì được  chấp nhận ngay, không có gì cần thẩm tra lâu dài. Đầu năm 1947, ông được  điều động về Việt Bắc đảm nhận chức vụ Tổng giám đốc Nha Thông tin. Năm  1951, trong một đợt chỉnh huấn theo kiểu Mao, bị Hoàng Quốc Việt đem  chuyện cũ ra hoạnh hoẹ, nhưng cũng chẳng làm gì được ông. Năm ấy ông vẫn  tham gia Bộ giáo dục, để từ đó về sau luôn nhận lãnh các chức vụ quan  trọng trong ngành này. Trong lí lịch của ông, vụ Deschamps thực sự chỉ  còn là một vết mờ, dù chưa xoá hẳn được nhưng chẳng liên can gì đến  những vu cáo động trời từng đồn đãi trong dư luận.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;***&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong lời nói đầu của cuốn hồi ký của mình, ông Giàu có viết dòng sau  đây: “Tôi chỉ viết hồi ký khoảng thời gian 1940-1945 vì đó là thời gian  tôi sống có chất lượng hơn hết trong cuộc đời dài quá 80 năm, xấp xỉ 90  năm”. Thực sự thì với tuổi đời 100 năm hiếm có của ông, ông đã bỏ ra  hết 80 năm (ông bắt đầu hoạt động khi 20 tuổi) theo đuổi cuộc cách mạng  cộng sản, ở nhiều nơi, làm nhiều việc, đáng chú ý nhất là 50 năm trong  ngành giáo dục, nhưng khi viết hồi ký ông chỉ viết về 5 năm ngắn ngủi,  1940 đến 1945, ngắn ngủi nhưng ông cho rằng đó là thời gian ông “sống có  chất lượng hơn hết”. Nói cho chính xác về khoảng thời gian này thì phải  tính từ cuối năm 1941 khi ông vượt “căng” Tà Lài ra hoạt động cho đến  ngày ông lãnh đạo thành công cuộc khởi nghĩa tháng 8 ở Nam bộ. Hầu hết  thời gian trước khi ra khỏi Tà Lài ông đều sống trong tù. Sau ngày 2  tháng 9, 1945, không theo thủ tục quy định do Hoàng Quốc Việt đề ra, ông  đã tự tiện phát tán “Lời kêu gọi kháng chiến”, để liền sau đó tự nói  với mình: “Thế là đời chính trị của Trần Văn Giàu đã hết”.[7] Có nghĩa  là cuộc sống “có chất lượng” của ông gom vào những ngày tháng ngắn ngủi  ấy cũng đã hết. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiểu theo nghĩa rộng thì thật sự sau đó ông vẫn chưa dứt khỏi nghề  làm làm chính trị vì ông vẫn còn là một đảng viên cộng sản và còn tin  tưởng mãnh liệt vào Lenin (và cả Stalin) mà ông thần phục từ thời thanh  niên. Nhưng có một cái gì đó không còn gì là khí thế vốn có của ông  trong mấy dòng chữ sau đây: “Kiểm lại, tôi thấy trong hơn ba, bốn mươi  năm bị hàm oan, tôi không hề rời công tác, việc gì giao cho dầu nhỏ tôi  cũng làm tròn, không giao việc gì thì tôi viết sách, viết báo, dạy học  và tôi đã đạt những thành tựu tôi mong muốn, giữ vững tư cách đảng viên,  giữa vững nhân cách Việt Nam”. Nhẫn nhục, khiêm tốn và đã mất đi hoàn  toàn cái hơi hám của thứ “chính trị” định nghĩa như một thái độ dấn thân  đầy hứng khởi, sáng tạo để biến đổi thế gian cùng với cái ý chí mãnh  liệt của một người muốn ghi tên mình vào hàng ngũ những lãnh tụ thay đổi  thế gian như trong những ngày Cách mạng Mùa thu ở Sài Gòn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng cũng qua những gì ông viết về những ngày làm “chính trị” có nội  dung trên đây như một hoài niệm mà chúng ta biết được những gì đã diễn  ra thực sự ở Nam bộ và vai trò thực sự của ông trong cuộc khởi nghĩa Mùa  thu đó: đó sẽ là những tư liệu sống của một người cộng sản vẫn còn đủ  lòng tự trọng để nói lên sự thật, giúp những người viết sử về sau dựng  lại trung thực hơn những gì họ đã viết, đặc biệt làm rõ hơn mối quan hệ  giữa trung ương và địa phương, giữa lãnh đạo và tự phát, ghi nhận tính  sáng tạo đa nguyên trong đấu tranh cách mạng, từ đó hy vọng chấm dứt  được các thứ lý giải có tham vọng không chính đáng muốn quy mọi hiện  tượng phức tạp về một đầu mối giả tạo,[8] và cũng căn cứ vào đó chấm dứt  việc khái quát hoá những sai lầm có giới hạn của ông trong cuộc khởi  nghĩa lịch sử ấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Riêng với tôi, một kẻ hậu sinh không quen ông đến độ thân thiết, từ  đất Sài gòn này, cũng có một thời theo tiếng gọi của Marx, của Lenin mà  đi theo con đường làm cách mạng vô sản, nay không còn tin tưởng bao  nhiêu vào con đường ấy nữa, nhưng đọc hồi ký của ông, tôi vẫn quý trọng  ông như một tiền bối, chăm chú theo dõi những việc ông kể về lịch sử đất  nước để mong hiểu thêm lịch sử của con người ông nhiều hơn: tôi đã hiểu  ông như một chiến sĩ vô sản của đất Nam kỳ mà sự cá biệt độc đáo trong  tính cách của ông đã vượt qua rất xa vai trò ông giữ trong cái tập thể  mà ông muốn phụng sự suốt đời. Ông đam mê, kiên cường, chết sống cho sự  nghiệp chung cũng là để thể hiện vị trí cá nhân của mình đến chỗ cao  nhất. Nhưng cũng chính từ tham vọng “chính trị” ấy ông đã bước ra ngoài  cái chuẩn mực mà lý luận cách mạng của ông đã quy định thành lý do tồn  tại cho cái “đoàn thể” hiện thân cho thứ lý luận đó. Có lẽ từ đó ông tạo  ra bi kịch, oán thù, hiểu lầm, và tiếc nuối cho mình. Và cũng chính vì  vậy mà khi ông làm cộng sản không có Trung ương lãnh đạo thì ông sống  một cuộc sống “ có chất lượng”, tuy bị tai tiếng nhưng đầy say mê và đạt  được vinh quang tột đỉnh. Còn khi ông trở về làm cộng sản có sự lãnh  đạo của Trung ương, thì tuy vẫn có thể trở thành anh hùng nhưng thâm tâm  dường như ông vẫn coi đó chỉ là một thứ anh hùng “phải đạo”, anh hùng  xó bếp. Một thứ anh hùng chấm dứt “anh hùng”. Một thứ chính trị hết còn  là “chính trị”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;***&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hồi ký ông viết đã lâu nhưng chỉ cho xuất hiện sau khi ông mất khiến  chúng ta không khỏi bùi ngùi nhận ra trong hành vi đó ý nghĩa một cuộc  dấn thân tổng lực cuối cùng nhằm vớt vát lại sự chói sáng cho một vầng  hào quang đã bị cái thực thể mà ông phấn đấu hy sinh suốt đời làm lu mờ  đi. Cái hậu mà hồi ký của ông gợi ra có thể làm yên lòng những người quý  mến ông nhưng với ông có thể chỉ là thời điểm để ông nhớ lại “những  đồng tuyết năm xưa” nhiều hơn. Đó là một cái hậu, hiểu theo nghĩa “chính  trị” của ông, có vẻ như không có gì gọi được là “cách mạng vô sản” cả!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chú thích&lt;/p&gt;&lt;p&gt;[1] Đăng nhiều kỳ từ tháng 12/2010 đến tháng 3/2011 trên hai trang  mạng Diễn Đàn và Viet-Studies, đăng lại tòan bộ như Phụ Lục trong số  Thời Đại Mới này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;[2] Theo nhận xét của Hoàng Tùng thì Trần Văn Giàu là một trong những  người học ở Liên xô về có ý xem thường Nguyễn Ái Quốc, cho ông này là  “dân tộc chủ nghĩa, trình độ lý luận kém” (Diễn Đàn, số 123, tháng  11-2002). Cũng cần chú ý một chi tiết này: lúc bấy giờ, khi nhắc đến  Nguyễn Ái Quốc, trong hồi ký, ông Giàu đã gọi bằng “anh”: “Bây giờ  Nguyễn Ái Quốc còn sống không, nếu còn thì làm sao anh biết được mọi uẩn  khúc ở Nam Kỳ?” Trong một bài viết trên một tạp chí nào đó (tôi quên  tên LP), ông Giàu thuật lại chuyện gặp Nguyễn Ái Quốc lần đầu (lúc ấy đã  là Hồ Chí Minh) và cũng gọi bằng “anh” nhưng đã bị Hồ Chí Minh khuyên  không nên gọi như vậy mà nên xưng hô như mọi người. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;[3] Xem Lữ Phương: Từ Nguyễn Tất thành đến Hồ Chí Minh, Chương “Việc  thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam”,  http://www.viet-studies.info/LuPhuong/LuPhuong_ViecThanhLapDCSVN.htm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;[4] ] Xem Nguyễn Phan Quang: Giáo sư Trần Văn Giàu – Nghe thầy kể chuyện, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2011, tr. 60 -71. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;[5] ] Xem Phan Văn Hoàng: “Bí thư Xứ uỷ Trần Văn Giàu và Cách mạng  tháng Tám 1945 ở Nam bộ”, Hồn Việt 27-9-2010,  http://honvietquochoc.com.vn/Nhan-vat/Bi-thu-Xu-uy-Tran-Van-Giau-va-Cach-mang-thang-Tam-.aspx&lt;/p&gt;&lt;p&gt;[6] Vấn đề phân hoá chính trị, tôn giáo đặc biệt xảy ra náo nhiệt ở  Nam kỳ trong giai đoạn Nhật Pháp ghìm nhau thống trị Việt Nam vào thời  kỳ 1940-1945 là một chuyên đề quan trọng cần được nghiên cứu, trong đó  sự phân liệt không phải chỉ bộc lộ qua những phe phái khác nhau, mà còn  thể hiện trong bản thân những tổ chức cùng một đường lối chung trong đó  có cả những tổ chức mệnh danh “cộng sản”, như trong phe Đệ Tứ (Nhóm La  Lutte của Tạ Thu Thâu, nhóm Militant của Hồ Hữu Tường, nhóm Octobre của  Lư Sanh Hạnh) cả trong hàng ngũ Đệ Tam nữa: về mặt này nếu không kể sự  khác biệt giữa Bắc và Nam mà chỉ nói đến Nam bộ thôi thì sự xung đột  giữa “hai xứ uỷ” (“Giải phóng” và “Tiền Phong”) không thuần chỉ là vấn  đề ganh ghét giữa những cá nhân. Có thể xem vài ghi chép sơ lược của  Nguyễn Văn Trấn trong cuốn Viết cho Mẹ và Quốc hội (sách chuyền tay xuất  hiện ở Việt Nam năm 1995) về cuộc tranh luận giữa báo Giải phóng (của  phe “Giải phóng”) với những luận điểm trong một số bài viết của Trần Văn  Giàu (ký Xuyên Vân Nhạn) để phát triển thêm đề tài này. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;[7] Trần Hữu Phước ghi: “Trần Văn Giàu “không phải là người buông  giáo”, Hồn Việt 9-4-2011  http://honvietquochoc.com.vn/Tu-lieu/Tu-lieu-lich-su/Tran-Van-Giau-khong-phai-la-nguoi-buong-giao.aspx&lt;/p&gt;&lt;p&gt;[8] Trong phần 4 của Hồi ký, ông Giàu có than phiền về cách viết sử  xuyên tạc đó như sau: “Sau 9-3-1945, chị Mười Tốt [(Nguyễn Thị Thập)]  còn ở Mỹ Tho, vậy mà theo một đoạn hồi ký của Thép Mới (in ấn năm 1995,  nhân kỷ niệm cách mạng tháng Tám), có bài của Thép Mới nói rằng, tháng 3  năm 1945, có chị Mười và Dân Tôn Tử có mặt ở Bắc và Trường Chinh đã  trao cho họ chỉ thị: “Nhật-Pháp đánh nhau, hành động của chúng ta”. Ôi!  Chị Mười khi ấy ở Mỹ Tho và Dân Tôn Tử (tức đồng chí Trần Văn Vi), ngày  10-3-1945, mới ra khỏi căng (trại giam) Bà Rá thì làm sao họ đem Nghị  quyết của Thường vụ Trung ương Đảng ngày 9 tháng 3 về Nam được? Bịa như  thế thì than ôi, cũng có người tin, hễ tin như vậy thì tất phải đặt câu  hỏi: “tại sao được chỉ thị của Trung ương mà Xứ uỷ Nam Kỳ và anh Giàu  không làm theo?”. Sao mà bày đặt ác thế? Ác thế để làm gì? Bịa trắng  trợn, sao mà sách ở một nhà xuất bản lớn ở Hà Nội lại đăng? Tai hại cho  lịch sử quá.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nguồn: http://www.viet-studies.info/LuPhuong/201121_LuPhuong.htm&lt;br /&gt;© Thời Đại Mới&lt;/p&gt;&lt;p&gt;DANH NHÂN VIỆT, THUNG DUNG&lt;/p&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6386160990305421427-4997324569363529105?l=danhnhanviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/feeds/4997324569363529105/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6386160990305421427&amp;postID=4997324569363529105' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/4997324569363529105'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/4997324569363529105'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/2011/05/nhan-oc-lu-phuong-viet-ve-hoi-ky-tran.html' title='Đọc Lữ Phương viết về thầy Giàu'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6386160990305421427.post-7883291808886257663</id><published>2011-05-22T22:12:00.011+07:00</published><updated>2011-09-23T16:32:26.138+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Tư liệu quý về Hồ Chí Minh'/><title type='text'>Tư liệu quý về Hồ Chí Minh</title><content type='html'>&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/-NkTWh3iK6Sg/TnxR-Y-9UXI/AAAAAAAAI-w/D0TV-3YFN3Y/s1600/Ho%2BChi%2BMinh.jpg" imageanchor="1" style="margin-left:1em; margin-right:1em"&gt;&lt;img border="0" height="229" width="320" src="http://1.bp.blogspot.com/-NkTWh3iK6Sg/TnxR-Y-9UXI/AAAAAAAAI-w/D0TV-3YFN3Y/s320/Ho%2BChi%2BMinh.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;DANHNHANVIET. Tiếp theo bài viết “Huyền thoại kép” Hồ Chí Minh vinh quang và những hệ lụy là bài viết Thử tìm lời giải cho câu hỏi: Cụ Hồ là ai? cũng của tác giả Ngô Trần Đức. Đây là công trình nghiên cứu có chứng cứ và tư liệu, cẩn trọng và khách quan. "Cụ Hồ là người chiến thắng, vì nền tảng văn hóa của Cụ sâu rộng, lý tưởng của Cụ cao cả, phẩm cách của Cụ trong sáng, phương pháp tư duy của Cụ uyển chuyển, biết linh hoạt ứng biến trước mọi hoàn cảnh, như Cụ thường nói “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, khi “tình hình, nhiệm vụ đã thay đổi,… chính sách và khẩu hiệu cũng phải thay đổi cho hợp với tình hình mới”.Vì vậy, Cụ được thừa nhận là biểu tượng cho khát vọng Độc lập, Tự do, Lương tâm và Trí tuệ của các dân tộc bị áp bức; được Tạp chí Time của Mỹ tổ chức bầu chọn vào danh sách 20 nhà lãnh đạo có uy tín hàng đầu trong tổng số 100 nhân vật được bầu chọn là những người nổi tiếng nhất thế giới trong thế kỷ XX."&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;THỬ TÌM LỜI GIẢI CHO CÂU HỎI: CỤ HỒ LÀ AI ?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ngô Trần Đức&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cụ Hồ là ai? Đây là một câu hỏi được giới nghiên cứu trong và ngoài nước nêu lên từ lâu, đã có nhiều lời giải khác nhau, đến nay vẫn tiếp tục có thêm những kiến giải mới. Điều đó cho thấy Hồ Chí Minh quả là một nhân vật đa dạng, phong phú, hấp dẫn, có khả năng sống với nhiều thời đại. Vậy Cụ Hồ là ai? Là dân tộc chủ nghĩa hay quốc tế chủ nghĩa? Là người mácxít hay người theo đạo Khổng? Là cộng hòa, cộng sản hay xã hội dân chủ? Chủ nghĩa cộng sản với Hồ Chí Minh là mục đích hay là phương tiện? v.v..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;I. Lược qua một vài ý kiến tiêu biểu&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ph. Devillers trong lời Tựa cho cuốn “Hô Chi Minh à Paris 1917-1923” của Thu Trang-Gaspard, có nêu câu hỏi: Tại Đại hội Tours, Nguyễn Ái Quốc tin theo Luận cương của Lênin, bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc Tế 3, nhưng ông đã phải là người mácxít chưa? Ông có tin vào sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, một giai cấp lúc đó còn hết sức nhỏ bé về số lượng ở Đông Dương? Ông có tin vào học thuyết đấu tranh giai cấp và sự cần thiết phải xây dựng một nền chuyên chính vô sản hay chưa? Tại sao lúc nào ông cũng chỉ tập trung vào vấn đề thuộc địa, đặt nó lên trên tất cả các vấn đề khác?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Ông tin vào lời kêu gọi “vô sản toàn thế giới liên hiệp lại”, bởi đối với ông, việc giải phóng đất nước bị chinh phục chỉ có thể tiến hành bằng bạo lực chứ không thể bằng những cải cách rụt rè. Vậy, cần làm rõ: sự lựa chọn đó xuất phát từ niềm tin trong hệ tư tưỏng, từ sự ngả theo hệ lý luận mácxit một cách sâu sắc hay chỉ là từ một nhu cầu thực tế? Nếu cách xử sự của Pháp khác đi thì phải chăng Người vẫn chỉ có một sự lựa chọn đó?”[1].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Alain Ruscio trong bài “Chân dung một người bônsêvich vàng”[2] cũng nêu một câu hỏi: Nguyễn Ái Quốc có thật sự muốn trở thành một đảng viên Xã hội không? Để trả lời, ông dẫn Trần Dân Tiên : Tôi vào Đảng Xã hội Pháp “ chỉ vì đấy là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Theo Ruscio, nghiã là Nguyễn Ái Quốc chỉ nhắc đến lý tưởng cộng hoà Pháp chứ không phải đến truyền thống chủ nghĩa xã hội Pháp hay Cách mạng tháng Mười Nga? Tác phẩm chính trị đầu tiên mà Nguyễn dịch ra tiếng Việt không phải là“Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” của Mác - Enghen hay “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” của Lênin, mà là “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng theo Ruscio, nguờì ta không tìm thấy một dấu hiệu nào cho biết dự kiến chính trị của Nguyễn Ái Quốc vào thời đó rằng sau khi giành được độc lập sẽ xây dựng An Nam thành một nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Pierre Brocheux, một sử gia Pháp đã hơn 50 năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh, lại đưa ra một nhận định: “Hồ Chí Minh là một người theo đạo Khổng, ông ưa các giải pháp ôn hoà hơn là cực đoan”. Hồ Chí Minh đã lên án các cuộc đánh người, giết người trong Cải Cách Ruộng Đất, và gọi như thế là hành xử theo lối bọn đế quốc, là hành vi tội phạm, là tội ác!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo Brocheux, Hồ Chí Minh có một lần viết về vụ Trăm hoa đua nở ở Trung Quốc, có gọi các nhà văn - như Đinh Linh - là phái hữu; nhưng ông không hề nhắc tới tên của bất cứ văn nghệ sĩ, trí thức nào của Viêt Nam.[3]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS Nhật Bản Yoshiharu Tsuboi (Đại học Waseda) trong tham luận tại Hội thảo Việt Nam học lần thứ ba, nêu vấn đề: “Có lẽ giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng nhất trong suốt cuộc đời mình là những giá trị của nền cộng hoà mà cơ sở lý luận của nó là Tự do, Bình đẳng, Bác ái”.Theo ông, tinh thần cộng hoà Pháp mang tính lý tưởng rất cao, nó không quan tâm đến con người đó là ai, sinh ra ở đâu, trong gia đình, dòng họ nào,…vấn đề quan trọng là giá trị của bản thân con người đó có đủ khả năng suy nghĩ một cách lý tính hay không?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nền cộng hoà được xây dựng bởi những cá nhân, theo quan điểm giá trị mới về con người, rất khác với quan niệm của Nho giáo. Hồ Chí Minh là nhà chính trị duy nhất ở châu Á đã nhận thức được một cách đúng đắn tinh thần của nền cộng hòa Pháp và đã cố gắng đưa nó vào Việt Nam. Khi đã trở thành người cộng sản, Hồ Chí Minh vẫn ưu tiên đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho mục tiêu Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Ông phân tich:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Độc lập mà Hồ Chí Minh muốn là một nhà nước có chủ quyền, theo quan niệm cận đại, xây dựng một chế độ Dân chủ Cộng hòa, xây dựng con người mới gánh vác công việc quốc gia.&lt;br /&gt;- Tự do không đơn thuần chỉ là quyền tự do định đoạt chính sách đối nội, đối ngoại của một nhà nước độc lập, mà là quyền tự do của mỗi người dân được hưởng với khả năng và trách nhiệm của mình, của một chủ thể xây dựng nền cộng hòa.&lt;br /&gt;- Hạnh phúc nghĩa là mỗi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình và phải biết chủ động tích cực đấu tranh để giành lấy hạnh phúc.&lt;br /&gt;Như vậy, theo ông về mặt này, ông Hồ không phải là người cộng sản chính thống theo quan điểm Mác –Lênin. Cho nên, nếu chỉ lấy ý thức hệ Mác-Lênin để lý giải cụ Hồ là không đầy đủ, do còn thiếu cái nền văn hoá - tư tưởng phương Tây, do không nắm được “tinh thần cộng hoà”, mà vẫn đóng khung trong cách nhìn “đấu tranh giai cấp”. Bản thân ông Hồ, để nhận viện trợ của phe xã hội chủ nghĩa cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, ông đã phải phát ngôn và hành động như một người cộng sản, đó là do thúc ép của hoàn cảnh lịch sử, mà ông không có sự lựa chọn nào khác!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra, có một vài học giả Việt Nam, gần đây cũng đưa ra những nhận định riêng của mình về Hồ Chí Minh . Có người cho rằng Hồ Chí Minh chỉ khoác áo cộng sản chứ không phải là người cộng sản, ông là người xã hội dân chủ từ gốc rễ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS Hoàng Ngọc Hiến, phát biểu trong một hội thảo, cho rằng sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác ở Hồ Chí Minh là một quá trình, phải nghiên cứu quá trình đó để xem Hồ Chí Minh đã tiếp biến chủ nghĩa Mác như thế nào? Theo GS Hiến, Nguyễn Ái Quốc từng ở chung với Phan Văn Trường khoảng 6 tháng, đó là Trường Đại học của Cụ Hồ! mà ông Trường lại là một người xã hội từ đầu đến chân! Tuy không nói thẳng ra, nhưng người nghe đều hiểu ý của ông: Hồ Chí Minh là một người xã hội dân chủ hơn là một người cộng sản. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn có thể dẫn thêm một vài ý kiến khác nữa, nhưng trên đây là mấy lập luận tiêu biểu. Vậy Hồ Chí Minh là ai? Cộng sản hay Dân tộc? người yêu nước hay chiến sĩ quốc tế? Cộng hòa, Cộng sản hay Xã hội dân chủ? Theo chủ nghĩa Mác hay theo đạo Khổng, v.v.. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;II. Thử tìm lời giải cho câu hỏi: Cụ Hồ là ai ?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để trả lời câu hỏi này một cách rõ ràng, theo tôi, không thể chỉ dựa vào một, hai yếu tố nào đó một cách tách biệt để lập luận, lý giải, rồi khẳng định Cụ Hồ là ai. Theo thiển ý, phải đặt mỗi yếu tố đó trong tổng thể cuộc đời Hồ Chí Minh, nhân cách Hồ Chí Minh, văn hoá Hồ Chí Minh, phương pháp hành xử Hồ Chí Minh,…mới hiểu đúng được thực chất con người Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một nhà báo Mỹ, từ rất sớm đã đưa ra nhận xét: “Hồ Chí Minh là một trong số những nhân vật lạ lùng nhất của thời đại chúng ta: một chút Gandhi, một chút Lênin,…nhưng hoàn toàn Việt Nam”[4]. Đây là một gợi ý cần được tham khảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hồ Chí Minh là người Việt Nam nhất trong những người Việt Nam, là sự kết tinh những giá trị tiêu biểu nhất của văn hoá - lịch sử - đất nước và con người Việt Nam. Do đó, muốn hiểu được Hồ Chí Minh, phải bắt đầu từ hiểu văn hoá và con người Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đó là một nền văn hoá khoan dung, cởi mở, có khả năng dung hoá, tích hợp những yếu tố tích cực, tiến bộ từ ngoài vào, không chút hẹp hòi, kỳ thị, miễn là nó không đi ngược lại với bản chất nhân văn của văn hoá Việt Nam. Vì vậy, văn hoá Việt Nam sớm có hiện tượng “tam giáo đồng nguyên”. Con người nông dân Việt Nam ngày xưa vốn rất thực tế, họ có thể vừa thờ Thần, thờ Phật lại vừa thờ cả ma quỷ (thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề), không hoàn toàn tin, nhưng để nó không trở thành kẻ thù của mình, không làm hại mình, đơn giản vậy thôi. Cũng nên coi đó là một nét khôn ngoan trong phương pháp xử thế của người Việt xưa mà ta cần xem xét.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi còn ở trong nước, Nuyễn Tất Thành đã được hấp thụ một nền Quốc học và Khổng học khá cơ bản, đủ sức tạo cho anh một bản lĩnh văn hoá vững vàng để có thể “hòa nhi bất đồng”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ra nước ngoài, anh Thành có điều kiện đi nhiều, hiểu rộng, biết nhiều ngoại ngữ, đến được nhiều nước, làm nhiều nghề, tiếp xúc với nhiều vĩ nhân,…nghĩa là có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn hoá, gia nhập nhiều tổ chức, vào nhiều hội, đoàn (Công đoàn lao động hải ngoại ở Anh, các Hội du lịch, Hội nghệ thuật và khoa học, Câu lạc bộ Faubourg ở Pháp, Đảng Xã hội. Sau khi đã vào Đảng Cộng sản rồi, vẫn tham gia Hội Nhân quyền, rồi cả Hội Tam điểm, đến với chủ nghĩa Mác rồi vẫn đến với chủ nghĩa Tôn Dật Tiên,…) để học cách tổ chức, khảo sát các cơ chế chính trị - xã hội,…nhằm chắt lọc lấy cái hay, cái tốt, cái thích hợp, phục vụ cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và xây dựng nước Việt Nam độc lập trong tương lai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do vậy, Hồ Chí Minh được coi là biểu tượng của sự tích hợp văn hoá Đông-Tây. Nói tích hợp nghĩa là biết tiếp thu có chọn lọc những giá trị từ bên ngoài nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng bên cạnh sự thâu hoá những giá trị chung của nhân loại. Cho nên không có gì lạ khi thấy trong văn hoá Hồ Chí Minh chứa đựng những yếu tố tích cực của tinh thần cộng hoà Pháp, dân chủ và nhân quyền Mỹ, tinh thần trọng đạo đức của Khổng giáo, đức từ bi, cứu khổ, cứu nạn của Phật, lòng nhân ái của Chúa, phép biện chứng của Mác, tinh thần cách mạng của Lênin, chủ thuyết Tam Dân của Tôn Dật Tiên, v.v..mà vẫn hoàn toàn Việt Nam. Như ta đã thấy: khi còn ở Pháp hay Nga, Nguyễn Ái Quốc có thể mặc Âu phục, đội mũ phớt, thắt cravate, viết báo, đọc diễn văn với một văn phong rất “Tây”, nhưng khi về Trung Quốc lại giản dị trong bộ quân phục Bát lộ quân; sang Thái Lan, ở chùa, khoác áo cà sa; về đến Chỉ Thôn (Vân Nam) lại sẵn sàng viết và đọc văn tế cầu hồn cho những kiều bào ta bị bom Nhật sát hại: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nam mô bồ tát đế tôn,&lt;br /&gt;Tiếp dẫn linh hồn về Mạc tư khoa!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người chiến thắng là người không “chấp nê”, mà có tinh thần “phá chấp”, biết thích ứng trước tình hình thực tế mà không để đánh mất mình - đúng như Hồ Chí Minh đã từng trả lời khi có người hỏi: ông là ai? -Tôi vẫn là tôi ngày trước, một người yêu nước.Vận dụng phương pháp trên vào tìm hiểu Cụ Hồ là ai, chúng tôi thử từng bước lý giải những vấn đề đang đặt ra.&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;1. Hồ Chí Minh có phải là người suốt đời theo lý tưởng cộng hoà?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trở lại ý kiến của GS Nhật Bản Tsuboi cho rằng “giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng suốt đời mình là tinh thần cộng hoà, mà cơ sở của nó là Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, liệu có phải hoàn toàn như vậy không?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đúng là trên hành trình đi ra với văn hoá nhân loại, Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của văn hoá Pháp trước tiên và có lẽ nó cũng để lại những dấu ấn sâu đậm trong nội dung và phong cách văn hoá của Cụ Hồ. Tại Pháp, Hồ Chí Minh đã tiếp thu lý tưởng nhân quyền, dân quyền và pháp quyền của các nhà Khai sáng Pháp, vận dụng nó vào cuộc đấu tranh, phê phán chế độ thực dân, đòi các quyền ấy cho nhân dân các nước thuộc địa. Yêu sách 8 điểm, lời mở đầu Tuyên ngôn Độc lập 1945, bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946,…đều in dấu ảnh hưởng các giá trị của nền cộng hoà Pháp, nó đã trở thành một phần trong mục tiêu mà Hồ Chí Minh theo đuổi – nhưng đó có phải là cái đích duy nhất và mục tiêu cuối cùng của ông hay không, thì vẫn cần phải bàn thêm .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tôi, cái giá trị lớn nhất mà Hồ Chí Minh theo đuổi suốt đời, như chính Người đã tuyên bố là “Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi, đó là tất cả những gì tôi muốn, đó là tất cả những gì tôi hiểu”. Điều quan trọng ấy rất tiếc lại không có trong bảng giá trị của nền cộng hoà Pháp. Đó cũng là điều mà trong khi đàm phán, tranh luận với chính giới Pháp năm 1946, Cụ đã chủ động bổ sung vào. Hồ Chí Minh có lần nói: “Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức: Tự do, Bình đẳng, Bác ái, Độc lập”[5]. Thêm Độc lập vào để ràng buộc họ: “Nước Pháp muốn độc lập, không có lý gì lại muốn nước Việt Nam không độc lập?”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS Tsuboi đã lý giải khẩu hiệu Tự do, Bình đẳng, Bác ái rất đúng với tinh thần phương Tây, nhưng lại không thật đúng theo quan niệm của Hồ Chí Minh.&lt;br /&gt;Tự do theo tinh thần cộng hoà Pháp trước hết là tự do cá nhân, vì tiền đề của nền cộng hòa Pháp được xây dựng trên quan điểm giá trị về con người cá nhân, nhất là quyền tự do cá nhân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn Hồ Chí Minh, trước hết vẫn là sản phẩm của nền văn hoá Việt Nam, văn hoá Phương Đông, vốn đề cao tinh thần cộng đồng, luôn đặt quốc gia, dân tộc lên trên cá nhân. Tự do theo tinh thần Hồ Chí Minh trước hết vẫn là tự do của toàn dân tộc chứ chưa phải là tự do cá nhân, là giải phóng cho dân tộc thoát khỏi ách nô lệ thực dân, được làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình (chứ chưa lấy giải phóng tự do cá nhân làm mục tiêu).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bình đẳng hiểu theo tinh thần cộng hoà là chống lại mọi sự phân biệt đối xử về dân tộc, màu da, giới tinh,…Mỗi cá nhân sinh ra đều có giá trị như nhau, như Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ mà Hồ Chí Minh đã trích dẫn: ‘Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” và coi đó là quyền tự nhiên của con người: bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi, về nhân phẩm, về cơ hội, nhất là bình đẳng trước pháp luật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bình đẳng là một khái niệm không xa lạ với Hồ Chí Minh vì nó vốn là một lý tưởng, một ước mơ ngàn đời của nhân dân lao động Việt Nam về một xã hội công bằng, không còn áp bức bất công, không còn cách biệt giầu, nghèo…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, quan niệm của Hồ Chí Minh về bình đẳng cũng có nội dung khác với phương Tây: nếu tinh thần cộng hoà coi trọng quyền bình đẳng giữa các cá nhân thì Hồ Chí Minh lại nâng nó lên thành quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Từ Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, Hồ Chí Minh suy ra: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bác ái (fraternité: có lẽ phải dịch là Hữu ái mới phù hợp, vì gốc của nó là từ frère, fraternel, nghĩa là tình anh em, tình đồng đội. Bác ái (philanthropie) có nghĩa quá rộng, nó đòi hỏi một tình cảm xuyên dân tộc, xuyên giai cấp, theo kiểu thuyết kiêm ái của Mặc tử, hay lòng bác ái của Chúa : phải yêu cả kẻ thù của mình!).&lt;br /&gt;Hữu ái gần với Hồ Chí Minh hơn, ông vốn từng là môn đệ của Khổng giáo, sớm thấm nhuần tinh thần “tứ hải giai huynh đệ”, nên Hồ Chí Minh thường quen gọi những ngưòi lao động, các dân tộc bị áp bức là anh em. (hỡi anh em ở các thuộc địa!, các dân tộc anh em, các nước anh em, vừa là đồng chí, vừa là anh em,…)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tóm lại, Hồ Chí Minh nhận thức Tự do, Bình đẳng, Bác ái qua lăng kính của người dân bị áp bức châu Á chứ không theo tinh thần cách mạng tư sản Pháp, nên ông chỉ coi đó là những yếu tố cần chứ chưa đủ. Vì vậy, không thể coi những giá trị của nền cộng hoà Pháp là mục tiêu theo đuổi suốt đời của Hồ Chí Minh .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;2. Hồ Chí Minh có phải chỉ thuần túy là người theo chủ nghĩa dân tộc?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;a. Hồ Chí Minh trước hết là một người yêu nước nồng nhiệt&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điều này đã được khẳng định trong danh xưng của Cụ: Hồ Chí Minh trước sau vẫn là Nguyễn Ái Quốc= một người yêu nước. Năm 1960, vào lúc thịnh thời của chủ nghĩa xã hội, trong bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Hồ Chí Minh đã viết: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế Thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa Xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy, Cụ Hồ đã nói rõ về con đường cách mạng của mình là từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Do đó, trả lời câu hỏi Cụ Hồ là ai, phải nhận thức được sứ mệnh kép đó, chứ không nên tách bạch một cách cực đoan, siêu hình: hoặc chỉ là người này (theo chủ nghĩa dân tộc) hoặc chỉ là người kia (theo chủ nghĩa quốc tế), chỉ là người mácxit hay chỉ là người theo đạo Khổng. Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa, nên không thể quy bộ mặt tinh thần của ông vào một dạng đơn nhất nào. Tuy nhiên, trong sự đa dạng đó, vẫn cần thiết phải xác định đâu là mặt chủ thể trong nhân cách của Hồ Chí Minh.&lt;br /&gt;Là người nô lệ mất nước, ra đi tim đường cứu nước, khát vọng cháy bỏng mà chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành mang theo là khát vọng giải phóng dân tộc và canh tân đất nước. Sau này, Hồ Chí Minh đã nói một câu thống thiết: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là lo làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Yêu nước đã trở thành lẽ sống, thành tiêu chuẩn chân lý để ông xét đoán con người và việc đời. Trước sự phân liệt của Đảng Xã hội ở Đại hội Tours, có người hỏi: anh sẽ bỏ phiếu cho Quốc tế nào? -Thế Quốc tế nào bênh vực các dân tộc thuộc địa? Được trả lời là Quốc tế 3, anh quyết định bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế 3. Đó không phải là một quyết định cảm tính, mà là theo lý tưởng, theo mục tiêu cứu nước của anh. Vì sao có thể nói như vậy?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong 10 năm đầu, Nguyễn Tất Thành đã đi khắp thế giới, hướng đến mọi chân trời để tìm đường thực hiện lý tưởng, nhưng không có bàn tay thân thiện nào chìa ra với anh, vì vào hai thập niên đầu thế kỷ XX, vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa vẫn còn là một vấn đề quá mới, quá lớn đối với thế giới, ngay Mác và Enghen trước đó cũng chưa đưa ra được câu trả lời thật rõ ràng, còn các Đảng Xã hội Quốc tế 2 lại chưa vượt qua được tâm lý dân tộc hẹp hòi, vì lợi ích quốc gia, họ vẫn ủng hộ chính sách thuộc địa của nhà nước tư bản. Mặt khác, cũng do cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa chưa phát triển mạnh mẽ, thực tiễn thời đại chưa hé ra được lời giải đáp rõ ràng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ sau thắng lợi của Cách mạng tháng 10 Nga, với sự thành lập Quốc tế 3 và Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin được công bố, tiếp theo là Đại hội Ba-cu, nêu cao tinh thần đoàn kết anh em giữa các dân tộc phương Đông với giai cấp vô sản phương Tây, rồi cùng với kinh nghiệm thực tiễn hoạt động và đấu tranh của bản thân, Nguyễn Ái Quốc mới dần dần đi tới được nhận thức rằng: “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[6]. Do đó, Nguyễn Ái Quốc đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa quốc tế. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, trong cái song đề đó, vẫn phải thấy mặt chính, mặt chủ thể của nó, đó là mặt nào? Có người nêu thắc mắc: tại sao Nguyễn Ái Quốc lúc nào cũng chỉ đề cập đến vấn đề thuộc địa mà ít hoặc không đề cập đến những vấn đề nóng bỏng khác trong phong trào cộng sản quốc tế lúc bấy giờ, vậy ông là người cộng sản theo chủ nghĩa quốc tế hay thuần túy chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thử hỏi, một người dân mất nước, đang đi tìm đường cứu nước làm sao lại không nói nhiều về vấn đề thuộc địa khi từng ngày, từng giờ chủ nghĩa thực dân đang gieo tai họa, đau khổ lên cuộc sống của đồng bào mình, tại sao lại không đề cao chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, vốn là “động lực vĩ đại và duy nhất” của họ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hãy nghe ý kiến của một người cộng sản phương Tây, ông Ch. Fourniau: “Vấn đề duy nhất đặt ra là cần hiểu rõ tại sao và như thế nào mà một người dân thuộc địa tất nhiên phải theo chủ nghĩa dân tộc? và tại sao lại tìm được ở chủ nghĩa cộng sản như là con đường duy nhất để thực hiện độc lập cho Tổ quốc mình?”[7]Tất nhiên, chủ nghĩa dân tộc và “dân tộc chủ nghĩa” là hai khái niệm khác nhau. J. Jaurès - lãnh tụ hàng đầu của Đảng Xã hội Pháp, từng nói đại ý: Một ít chủ nghĩa yêu nước thì đưa ta xa rời chủ nghĩa quốc tế, rất nhiều chủ nghĩa yêu nước thì đưa ta vào trung tâm của chủ nghĩa quốc tế. Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh chinh là biểu tượng cao đẹp của tinh thần đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;b. Hồ Chí Minh đồng thời là một chiến sĩ quốc tế trong sáng&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ người yêu nước trở thành người cộng sản, được tiếp nhận phương pháp làm việc biện chứng, trí tuệ của Nguyễn Ái Quốc được nâng cao thêm, tầm nhìn thời đại được mở rộng hơn, bạn bè, đồng chí trở nên đông đảo hơn, sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế cũng ngày càng to lớn và hiệu quả hơn, triển vọng thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng của Việt Nam cũng trở nên sáng sủa hơn. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi trở thành người cộng sản, cùng với các thành viên khác gốc thuộc địa, Nguyễn Aí Quốc đã kiến nghị với Đảng Cộng sản Pháp lập ra Ban nghiên cứu Thuộc địa, xuất bản báo Le Paria, tham gia sáng lập Hội liên hiệp Thuộc địa, kiến nghị với báo L’Humanité mở chuyên mục thường xuyên về vấn đề thuộc địa. Tên tuổi Nguyễn Áí Quốc trên các bài báo dần dần trở nên quen thuộc với các dân tộc bị áp bức đang đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Áí Quốc trở thành người cộng sản đồng thời cũng trở thành một chiến sĩ quốc tế chân chính. Ông không chỉ quan tâm đến số phận các dân tộc Đông Dương mà còn quan tâm tới số phận của tất cả những “người cùng khổ” trên trái đất: ủng hộ nền độc lập của nhân dân Airơlen, bênh vực quyền lợi của người Mỹ da đen, lên án tội ác của chủ nghĩa thực dân gây ra ở Đahômây, Angiêri, Mađagaxca,…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có thể nói, Nguyễn Ái Quốc là người có công lớn trong việc đấu tranh, bảo vệ, phát triển và hiện thực hoá học thuyết Lênin về cách mạng thuộc địa bằng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tôc của Việt Nam và thắng lợi của phong trào giải phóng dân tôc trên thế giới trong thế kỷ XX. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chính Đảng Cộng sản Pháp đã đánh giá rất cao những cống hiến của Nguyễn Ái Quốc vào đường lối của Đảng Pháp trong vấn đề thuộc địa: “Nguyễn Ái Quốc đã có đóng góp quan trọng vào việc hình thành truyền thống chống chủ nghĩa thực dân, một truyền thống làm vẻ vang cho Đảng Cộng sản Pháp…Vậy thì hẳn rằng Người phải được coi là một trong những người thầy của Đảng Cộng sản Pháp về những vấn đề thuộc địa”[8]. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;3. Hồ Chí Minh phải chăng là một người xã hội dân chủ?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là người yêu nước và chiến sĩ quốc tế, điều đó không ai có thể phủ nhận, nhưng liệu ông có phải là người xã hội dân chủ?&lt;br /&gt;Hiện nay, khi mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ Thụy Điển đang được ca ngợi, có một số người lại cho rằng Hồ Chí Minh không phải là cộng sản, mà về thực chất ông là người xã hội dân chủ từ trong gốc rễ! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;a. Trước hết, cần nhìn lại xem có khi nào Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh phủ nhận danh hiệu người cộng sản của mình không?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong gần 50 năm làm người cộng sản, khi thuận lợi, lúc khó khăn, dù chi là người thợ ảnh bình thường hay đã là vị chủ tịch nước, khi bị giam hãm chốn ngục tù hay đã lên tới tuyệt đỉnh vinh quang,…Hồ Chí Minh lúc nào cũng tỏ rõ là người cộng sản thuỷ chung, thắng không kiêu, khó không nản, chưa từng thấy khi nào ông phủ nhận danh hiệu cộng sản của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 8 năm 1944, được Trương Phát Khuê trả lại tự do sau hơn một năm cầm tù, trước khi rời Liễu Châu, Hồ Chí Minh nói thẳng với Trương: “Tôi là một người cộng sản, nhưng điều tôi quan tâm hiện nay là Tự do, Độc lập của Việt Nam chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản. Tôi có một lời đảm bảo đặc biệt với ông rằng: chủ nghĩa cộng sản sẽ chưa được thực hiện ở Việt Nam trong vòng 50 năm tới”[9].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giữa năm 1946, ở Paris, một nhà báo cánh hữu muốn làm giảm thiện cảm của những người Pháp không ưa chủ nghĩa cộng sản đối với Hồ Chí Minh, đã đưa ra một câu hỏi: “Thưa Chủ tịch, Ngài có phải là cộng sản không?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh bình thản đi tới lẵng hoa bày trên bàn, rút ra từng bông lần lượt đem tặng cho những người có mặt, trước hết là cho chị em phụ nữ, và nói rằng: “Tôi là người cộng sản như thế này này”(Je suis communiste comme ça!). Hồ Chí Minh hiểu thâm ý của nhà báo Pháp khi đưa ra câu hỏi không thân thiện nói trên, nghĩa là muốn mượn hình ảnh người cộng sản đang bị bêu xấu trong các tấm áp phich xuất hiện trên đường phố Paris thời bấy giờ để hạ uy tín của Hồ Chí Minh. Nhưng cử chỉ văn hoá trang nhã, lịch thiệp của ông đã cho các quan khách thấy hình ảnh một người cộng sản khác- một người cộng sản Việt Nam lịch thiệp, nhân ái, nhân văn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi qua đời, Người đã dặn lại trong Di Chúc một điều có liên quan đến trách nhiệm đảng viên cộng sản của mình: “Đảng ta là đảng cầm quyền,…phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Hồ Chí Minh đi theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng hiểu rất rõ việc thực hiện lý tưởng cộng sản là một quá trình lịch sử lâu dài, chỉ khi nào đạt tới trình độ phát triển rất cao về kinh tế, văn hóa, xã hội và con người mới có điều kiện thực hiện. Đối với Việt Nam, Người khẳng định lý tưởng đó còn quá xa, chưa thể thực hiện được trong vòng 50 năm tới; còn đối với thế giới, thì Người cũng nói khi trả lời các nhà báo Pháp năm 1946 tại Paris, qua một sự so sánh: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác. Cách đây 2000 năm, Đức chúa Giêxu đã nói là chúng ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được. Còn đến bao giờ chủ nghĩa Các Mác thực hiện thì tôi không thể trả lời được”.[10] Như đã thấy: Hồ Chí Minh là một nhà chính trị tỉnh táo và trung thực. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;b. Vậy Hồ Chí Minh là ai?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cần thấy rằng con đường cách mạng của Nguyễn Tất Thành khi ở Pháp đã phát triển qua nhiều chặng. Khi mới chân ướt chân ráo tới Paris cuối năm 1911, trung thành với chiến lược canh tân của Phan Châu Trinh (có thể có sự gợi ý và giúp đỡ của cụ Phan), anh Thành đã viết đơn xin vào Trường Thuộc địa với hy vọng tranh thủ nâng cao học vấn để trở về giúp đồng bào. Năm 1919, cùng với Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường, anh đưa Yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Hòa bình Versailles, thí điểm dùng luật pháp tư sản và biện pháp kiến nghị hòa bình để đòi các quyền dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Chắc không ai cho anh là người theo chủ nghĩa cải lương! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã từng tham gia Đảng Xã hội Pháp Quốc Tế 2. Dù đã có cuộc chia tay ở Đại hội Tours, ông vẫn duy trì quan hệ tốt đẹp với nhiều lãnh tụ và đảng viên Xã hội - những người một thời đã dìu dắt, giúp đỡ ông trong buổi đầu chập chững khi ông mới bước vào hoạt động chính trị trên đất Pháp. Chắc cũng không ai vì điều này mà cho ông là người xã hội dân chủ từ gốc rễ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hay là, do cách ứng xử ôn hòa của ông: biết tiến biết lui, biết liên minh, đối thoại, kiên trì giải pháp hòa bình trong nhiều vấn đề quốc gia và quốc tế, mà có thể khiến người ta nhìn nhận ông như là một người xã hội dân chủ chăng?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giải đáp vấn đề này, cần nhắc lại một nguyên lý đơn giản: Chủ nghĩa Mác-Lênin, cũng như mọi chủ thuyết chính trị hay tôn giáo khác, như Phật giáo, Nho giáo khi được du nhập vào Việt Nam, ít nhiều cũng bị khúc xạ bởi truyền thống văn hoá, tư tưởng, đạo đức, lối sống ,…của dân tộc Việt Nam - một dân tộc có truyền thống nghìn năm văn hiến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gia nhập hàng ngũ mácxít, đương nhiên Nguyễn Ái Quốc chấp nhận học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác. Nhưng xuất phát từ thực tế xã hội và văn hoá truyền thống Việt Nam, ông không coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất, càng không tuyệt đối hoá nó, mà có sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tế Việt Nam. Lý luận Mác-Lênin nhấn mạnh đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, nhưng Nguyễn Ái Quốc lại cho rằng: “Cuộc đấu tranh giai cấp (ở Việt Nam) không diễn ra giống như ở phương Tây”.“Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước…Người ta không thể làm gì được cho người An Nam nếu như không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất trong đời sống xã hội của họ”[11]. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã có lần phê phán những biểu hiện giáo điều, tả khuynh của một số người mới từ nước ngoài về: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng đề ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”[12]. “Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương giai cấp đấu tranh là một điều ngu ngốc”[13]. Về chính quyền, Hồ Chí Minh không tuyên bố xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản mà chủ trương thành lập nhà nước dân chủ cộng hòa, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Là người cộng sản, đương nhiên về nguyên tắc, Hồ Chí Minh thừa nhận học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Nhưng khi Nguyễn Ái Quốc bước vào hoạt động chính trị đầu thập niên 20 thế kỷ trước, thì giai cấp công nhân Việt Nam mới đang trên đường hình thành, số lượng còn nhỏ bé, càng chưa thể có giai cấp công nhân công nghiệp và cũng chưa thực sự xuất hiện trên vũ đài lịch sử như một lực lượng chính trị. Khi đó, Nguyễn Ái Quốc đã từng viết một số bài về phong trào công nhân Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ,…mà chưa có điều kiện bàn nhiều về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam khi nó chưa thật sự trưởng thành. Từ sau cách mạng tháng Tám, rồi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, thì Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo thì kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”[14].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những điều trình bày trên cho thấy Hồ Chí Minh hoàn toàn không có gì giống với các quan điểm cơ bản của chủ nghia xã hội dân chủ. Ông không phủ nhận đấu tranh giai cấp để đi vào con đường thoả hiệp với kẻ thù ; không từ bỏ con đường đấu tranh cách mạng để chấp nhận những cải cách bố thí nhỏ giọt của đế quốc, thực dân ; càng không tin rằng vận mệnh của Tổ quốc, tự do của nhân dân có thể giành lại chỉ bằng con đường đấu tranh nghị trường, v.v. vốn là những quan điểm đặc trưng của những người xã hội dân chủ. Chính vì bất mãn với thái độ của các lãnh tụ Đảng Xã hội Pháp trong vấn đề thuộc địa: “Đề ra những luận cương dài dằng dặc và thông qua những nghị quyết rất kêu để sau Đại hội đưa vào viện bảo tàng”[15], nên Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc Tế 3, trở thành người chiến sĩ quốc tế nồng nhiệt, đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập của dân tộc mình và cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đó là so sánh trên những điều thuộc về nguyên tắc, còn cung bực uyển chuyển trong xử lý mỗi sự việc cụ thể là thuộc về sách lược, nó phụ thuộc vào phong cách, khí chất của mỗi con người, vào nền tảng văn hóa của họ.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Nhưng điều quan trọng không phải là lý giải xem Hồ Chí Minh là Xã hội Dân chủ hay Cộng sản, mà vấn đề cơ bản cần làm rõ: Ông là người cộng sản như thế nào? Bởi trong những lãnh tụ cộng sản, có người chuyên quyền, độc đoán, giáo điều, cơ hội “tả” khuynh,…lại cũng có những người như Antonio Gramsci, lãnh tụ Đảng Cộng sản Italia, chủ trương thay thế khái niệm “chuyên chính vô sản”(dictature du prolétariat) bằng khái niệm “bá quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản” (hégémonie du prolétariat), nhấn mạnh vai trò chỉ đạo của trí tuệ và đạo đức hơn là bằng quyền lực nhà nước; hoặc như Rosa Luxemburg - lãnh tụ Đảng Cộng sản Đức, bà cho rằng “chế độ tập trung dân chủ là tập trung quyền lực vào một nhóm người, còn các tổ chức khác chỉ là công cụ chấp hành của Trung Ương mà thôi”; theo bà, cải lương cũng là sản phẩm của cách mạng, lựa chọn cải lương hay bạo lực là tùy tình thế cách mạng, còn bạo lực chỉ là giải pháp cuối cùng, nó là con dao hai lưỡi, rất khó sử dụng,…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đó là nói những lãnh tụ cộng sản chưa cầm quyền. Hồ Chí Minh là một lãnh tụ đã cầm quyền suốt 24 năm, nhưng trước sau vẫn nhất quán là người cộng sản yêu nước, thương dân, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và dân tộc lên trên lợi ích giai cấp và bộ phận, suốt đời tận tụy, khắc khổ nêu tấm gương về người lãnh đạo - người đày tớ thật trung thành của nhân dân; trong sạch, liêm khiết, đi tiên phong đấu tranh chống hủ bại: tham ô, lãng phi, quan liêu trong điều kiện cầm quyền. Hồ Chí Minh là biểu tượng của người cộng sản cầm quyền theo chính trị “vương đạo”: lãnh đạo bằng thuyết phục và nêu gương, luôn nêu cao trí tuệ, đạo đức, dân chủ, coi dân là chủ, lấy lợi ích và nguyện vọng của dân làm gốc. Cụ là người rất “trí thức” nên biết quý trọng trí thức, tin dùng người tài, không gợn một chút “kiêu ngạo cộng sản” nào. Cụ thường nói: “Cách mạng rất cần trí thức và thực ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức…Không có trí thức tham gia, công việc của cách mạng khó khăn thêm nhiều”[16]. Nhân cách của Cụ tỏa ra sức hấp dẫn đặc biệt đối với trí thức thuộc nhiều xu hướng, cả trong Nam ngoài Bắc lẫn trí thức Việt kiều, lôi cuốn được hầu hết những trí thức lớn của đất nước đi vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc; ai chưa kịp đến với Cụ thì cũng không khi nào chống lại Cụ cả. Đó là “chìa khóa” đã giúp Hồ Chí Minh thành công. Học tập và làm theo Hồ Chí Minh là phải phấn đấu thực hiện bằng được những điều đó. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng Hồ Chí Minh lại là một minh chứng hùng hồn về vai trò của vĩ nhân trong lịch sử. Không có Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khó có thể sớm giành được bá quyền lãnh đạo của mình ngay từ sau năm 1945.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, cũng không thể quy những phẩm chất nói trên của Hồ Chí Minh chỉ do ông là môn đồ của Khổng giáo. Không ai phủ nhận: xuất thân từ một gia đình nhà nho, từ nhỏ Nguyễn Tất Thành đã thấm nhuần nhiều mệnh đề Nho giáo có giá trị chỉ đạo nhận thức thế giới và xử lý các vấn đề xã hội-nhân sinh, (ví như đạo “Trung Thứ”của Khổng-Mạnh: suy từ lòng mình để hiểu được lòng người, làm chính trị như thế có thể đạt tới điều “nhân”). Nhưng ảnh hưởng của Khổng giáo chỉ là một phần thôi, cái gốc làm nên nhân cách chính trị Hồ Chí Minh chính là văn hóa Việt Nam, mà hạt nhân của nó là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân ái và chủ nghĩa cộng đồng Việt Nam - được hình thành lâu đời từ trong quá trình dựng nước và giữ nước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;c. Hồ Chí Minh không phải là người cộng sản giáo điều mà là người cộng sản nhân văn, có tư duy độc lập, sáng tạo, một nhà chính trị có đầu óc thực tế.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ mới hơn một năm sống ở Maxkva, Nguyễn Áí Quốc đã đưa ra một luận điểm mà nhiều nhà cách mạng thế giới phải suy nghĩ: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết học nhất định của lịch sử. Nhưng lịch sử nào?-Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gi? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”[17] - (một phản ứng rất tinh, rất sớm với thuyết “Dĩ Âu vi trung” đang thịnh hành ở châu Âu lúc bấy giờ).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Ái Quốc đã xuất phát từ truyền thống văn hoá Việt Nam để nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác. Ông là người cộng sản đầu tiên nhận ra và đánh giá cao tiềm lực của cách mạng thuộc địa ở Phương Đông. Trong lúc các đảng Cộng sản theo Quốc Tế 3 cho rằng: vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa chỉ có thể được giải quyết khi nào cách mạng vô sản giành được thắng lợi ở phương Tây. Cả Mác - Enghen, rồi Lênin cũng chưa nghĩ đến khả năng các dân tộc thuộc địa có thể tự giải phóng mình ngay giữa vòng vây của chủ nghĩa đế quốc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế mà Nguyễn Ái Quốc lại “cả gan” đưa ra một luận điểm trái ngược, “phi kinh điển”, so với các quan niệm trên! Từ sự phân tích những điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội…của châu Á (chế độ ruộng công, thuyết bình đẳng về tài sản, chế độ giáo dục và lao động cưỡng bức đối với người lớn, chế độ phúc lợi cho người già, tư tưởng “dân vi quý”, sự lên án nghiêm khắc thói ăn bám,…), Nguyễn Ái Quốc đưa ra nhận định: “chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á hơn là ở châu Âu”, nghĩa là cách mạng thuộc địa theo đường lối vô sản có thể nổ ra ở châu Á, nếu “chúng ta có nhiệt tình tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và thực tâm muốn giúp đỡ những người lao động lật đổ ách của những kẻ bóc lột” thì họ sẽ trở thành một lực lượng khổng lồ “và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc” họ còn “có thể giúp đỡ những người anh em ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”[18]. Đó quả thật là một luận điểm táo bạo, mới mẻ, lạ lùng nữa, trước đó chưa có ai nhìn ra và chưa ai dám khẳng định mạnh mẽ như thế !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhìn vào những đặc điểm của văn hoá chính trị Hồ Chí Minh, chúng ta đều nhận thấy đó chính là sản phẩm của văn hoá chính trị Việt Nam, phản ánh những giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam. Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, thông qua Hồ Chí Minh, cũng được lọc qua hệ giá trị đó. Khi Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tinh, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được” – thì đó chỉ là mượn danh nghĩa Mác-Lênin để truyền đạt tinh thần nhân văn - nhân nghĩa của văn hóa Việt Nam mà thôi!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;III. Kết luận&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nêu lại luận đề “Cụ Hồ là ai” để trao đổi, chúng tôi chỉ muốn góp thêm một vài ý kiến để cùng tham khảo, vì hiểu rằng Hồ Chí Minh dù là dân tộc hay quốc tế, cộng hòa hay cộng sản, xã hội dân chủ hay Khổng giáo,…đối với các học giả nói trên, đều không quan trọng. Mỗi người từ chỗ đứng của mình, rọi một cái nhìn để giúp hiểu được tính đa dạng, phong phú cuả một vĩ nhân. Vĩ nhân nào cũng đều là sản phẩm của những điều kiện lịch sử- xã hội nhất định, sở dĩ họ là vĩ nhân vì họ đã vượt lên được những hạn chế của hoàn cảnh để trở thành người đi tiên phong trong thời đại của mình. Ở một vĩ nhân như Hồ Chí Minh lại càng như vậy. Trên hành trình 30 năm tìm đường, Cụ đã đến nhiều nước, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, đã tìm hiểu nhiều chủ thuyết, tự coi mình là học trò nhỏ của nhiều ông thày lớn, nhưng Cụ biết chọn lọc để chỉ học lấy những “cái cần thiết cho chúng ta”, phục vụ cho “con đường giải phóng chúng ta”[19] phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc, chứ không hề “tiếp thu cả gói” một cách giáo điều. Trong những hoàn cảnh bị o ép khắc nghiệt, Cụ vẫn giữ được bản lĩnh, bản sắc của một nhà chính trị tầm vóc, không bị bào mòn, hòa tan, không đầu hàng, khuất phục. Cụ đã nêu tấm gương bất khuất của một dân tộc nhỏ trước những cường quốc lớn, ngay cả trong vấn đề tiếp nhận văn hóa và tư tưởng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vậy cuối cùng, Cụ Hồ là ai? Theo Voltaire, “nhà chính trị thực sự xứng đáng với tên gọi này là người “biết chơi” và dần dà là người chiến thắng”. Theo tôi, Cụ Hồ là nhà chính trị “biết chơi”, biết khéo tận dụng mọi cơ hội và phương tiện để thực hiện mục tiêu đấu tranh của dân tộc. Cụ là người chiến thắng, vì nền tảng văn hóa của Cụ sâu rộng, lý tưởng của Cụ cao cả, phẩm cách của Cụ trong sáng, phương pháp tư duy của Cụ uyển chuyển, biết linh hoạt ứng biến trước mọi hoàn cảnh, như Cụ thường nói “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, khi “tình hình, nhiệm vụ đã thay đổi,… chính sách và khẩu hiệu cũng phải thay đổi cho hợp với tình hình mới”[20].Vì vậy, Cụ được thừa nhận là biểu tượng cho khát vọng Độc lập, Tự do, Lương tâm và Trí tuệ của các dân tộc bị áp bức; được Tạp chí Time của Mỹ tổ chức bầu chọn vào danh sách 20 nhà lãnh đạo có uy tín hàng đầu trong tổng số 100 nhân vật được bầu chọn là những người nổi tiếng nhất thế giới trong thế kỷ XX[21]. Về phần Cụ, sứ mệnh đã hoàn thành. Trong 80 năm mất nước, bị nô lệ, có biết bao cuộc đấu tranh anh hùng đã diễn ra, song tất cả đều thất bại; với Cụ, ta đã có “một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất”; còn “dân chủ, giàu mạnh và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới” sẽ được thực hiện ra sao, đó là trách nhiệm của thế hệ lãnh đạo hôm nay, của những người được coi là kế tục Cụ; nhưng để được như vậy, không chỉ nhân danh Cụ mà cần ra sức học tập, thành tâm noi theo Cụ, cả về Tâm, Đức, Trí và Hành ./.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chú thích&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;[1] Thu Trang-Gaspard: Hô Chi Minh à Paris (1917-1923). Preface de Ph. Devillers, p.13.&lt;br /&gt;[2] Alain Ruscio: Nguyen Ai Quoc-Ho ChiMinh : Portrait d’un “Bolchevik jaune”, Revue Communisme No 28, 4 me Trimestre 1990.&lt;br /&gt;[3].Bài nói chuyện của Pierre Brocheux tại Toronto-Canada ngày 29-10-2003 về cuốn sách của ông: “Viêt Nam expose and New biography of Ho Chi Minh” .&lt;br /&gt;[4] David Halberstam: “Ho”, Random House, New York, 1971.&lt;br /&gt;[5] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t. 4, tr. 458&lt;br /&gt;[6] Luận đè này đến năm 1959 mới được Hồ Chí Minh diễn đạt thành văn, nhưng nó đã là sản phẩm tư duy của Nguyễn Ái Quốc được hình thành từ những điều kiện lịch sử khách quan của những năm 20 TK XX. Cũng có thể xem đó là sự lựa chọn của lịch sử.&lt;br /&gt;[7] “Một nhà yêu nước và một nhà cách mạng mẫu mực”, trong Ho Chi Minh, notre camarade, Ed. Sociales Paris, 1970, p. 21. &lt;br /&gt;[8] Ch. Fourniau : Ho Chi Minh, notre camarade, Ed. Sociales, Paris, 1970, tr. 31.&lt;br /&gt;[9] Hồi ký của Trương Phát Khuê, đăng trên Tuần báo Liên hợp tạp chí ,Hồng Kông, 1962.&lt;br /&gt;[10] Hồ Chí Minh Toàn tập, t,4, tr. 272.&lt;br /&gt;[11] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t. 1, tr. 464, 467.&lt;br /&gt;[12] HCM Toàn tập, t.5, tr.272.&lt;br /&gt;[13] XYZ: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ban Huấn luyện TƯ xb 1949. (Chưa có trong HCM Toàn tâp xb lần 2).&lt;br /&gt;[14] Hồ Chí Minh Toàn Tập, sdd, t.6,tr. 458.&lt;br /&gt;[15] Hồ Chí Minh Toàn Tập ,sdd, t.1,tr. 281.&lt;br /&gt;[16] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t.7, tr. 33 và t.5, tr.235 .&lt;br /&gt;[17] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t. 1, tr. 465.&lt;br /&gt;[18] Hồ Chí Minh Toàn Tập, sdd , t.1, tr.36.&lt;br /&gt;[19] Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin, HCM Toàn Tập, t. 10, tr. 127.&lt;br /&gt;[20] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t.7, tr. 315.&lt;br /&gt;[21] Chuẩn bị cho thời điểm kết thúc thế kỷ XX, tạo chí Time đã phối hợp với hãng truyền hình CBS, đưa ra bảy triệu phiếu bầu, gửi đi khắp các nước, để bầu chọn lấy 100 nhân vật được coi là có ảnh hưởng lớn nhất, thuộc các lĩnh vực khác nhau, trong thế kỷ XX. Số cuối tháng 12-1999, tạp chí Time đã công bố danh sách 100 nhân vật đó. Hồ Chí Minh nằm trong số 20 nhà lãnh đạo có uy tín lớn nhất, bên cạnh V.I.Lênin, M.Gandhi, W. Churchill, A. Khomeney, N. Mandela cùng nhiều nhân vật nổi danh khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguồn viet-studies&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Trở về trang chính&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://dayvahoc.blogtiengviet.net"&gt;Dạy và học BlogtiengViet&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://cayluongthuc.blogspot.com"&gt;CÂY LƯƠNG THỰC&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://foodcr5ops.vn"&gt;FOOD CROPS&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim"&gt;Dạy và học ĐHNLHCM&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://giadinhnongnghiep.wordpress.com"&gt;Gia đình nông nghiệp&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com"&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM&lt;/a&gt;, &lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com"&gt;DẠY VÀ HỌC&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6386160990305421427-7883291808886257663?l=danhnhanviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/feeds/7883291808886257663/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6386160990305421427&amp;postID=7883291808886257663' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/7883291808886257663'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/7883291808886257663'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/2011/05/lai-them-mot-tai-lieu-quy-ve-ho-chi.html' title='Tư liệu quý về Hồ Chí Minh'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/-NkTWh3iK6Sg/TnxR-Y-9UXI/AAAAAAAAI-w/D0TV-3YFN3Y/s72-c/Ho%2BChi%2BMinh.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6386160990305421427.post-7046278891168775198</id><published>2011-04-23T00:32:00.001+07:00</published><updated>2011-04-23T00:38:55.335+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Thêm một tài liệu quý về Hồ Chí Minh'/><title type='text'>Thêm một tài liệu quý về Hồ Chí Minh</title><content type='html'>&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/-_Id2vfGMi-Y/Sp0k1MGbByI/AAAAAAAADvs/ehEgdzhRtSI/s1600/Ho+Chi+Minh.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="320" src="http://4.bp.blogspot.com/-_Id2vfGMi-Y/Sp0k1MGbByI/AAAAAAAADvs/ehEgdzhRtSI/s320/Ho+Chi+Minh.jpg" width="254" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: inherit;"&gt;DANHNHANVIET. &lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm" style="font-family: inherit;"&gt;“Huyền thoại kép” Hồ Chí Minh vinh quang và những hệ lụy &lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: inherit;"&gt;&amp;nbsp;là bài viết của Ngô Trần Đức. Tài liệu quý này đã giải mã nhiều vấn đề sự thật về Hồ Chí Minh. “Chính &lt;/span&gt;&lt;i style="font-family: inherit;"&gt;người cộng sản - ái quốc&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: inherit;"&gt; Hồ Chí Minh, trong vai trò “huyền thoại kép” này, đã giúp ông đạt được những thành tựu diệu kỳ cho đất nước, nhưng nó cũng gây cho cá nhân ông bao hệ lụy cay đắng phải gánh chịu cho đến ngày nay. Sở dĩ ông vượt qua được và thành công chính là nhờ &lt;/span&gt;&lt;i style="font-family: inherit;"&gt;khả năng vận động uyển chuyển giữa hai cực đó, nghĩa là biết điều chỉnh và thỏa hiệp nhất định với thực tế cay nghiệt của hoàn cảnh để tồn tại và phát triển, vì lợi ích của dân tộc và lợi ich của cách mạng&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: inherit;"&gt;…Đó là di sản tinh thần quý báu &amp;nbsp;mà Hồ Chí Minh để lại …” Trích kết luận của Ngô Trần Đức.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;  &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="font-family: inherit;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;“HUYỀN THOẠI KÉP” HỒ CHÍ MINH :&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: large;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;VINH QUANG VÀ NHỮNG HỆ LỤY&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: large;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Ngô Trần Đức&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;b&gt;    &lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Mở đầu&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;b&gt;    &lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;b&gt;    &lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;    Trong    &lt;i&gt;Lời giới thiệu&lt;/i&gt; công trình nghiên cứu của mình- “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Hồ Chí     Minh: Những năm tháng chưa được biết đến”- &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;bà Sophie     Quinn-Judge gọi Hồ Chí Minh là một “huyền thoại kép”(&lt;i&gt;The double     myth&lt;/i&gt;), với ý nghĩa ông là lãnh tụ duy nhất của phong trào giải     phóng dân tộc ở châu Á nửa đầu thế kỷ XX mang hai nhân cách: vừa là    &lt;i&gt;người yêu nước&lt;/i&gt; (dân tộc), vừa là &lt;i&gt;người cộng sản&lt;/i&gt; (quốc     tế). Theo tôi, chính “huyền thoại kép” này đã đem lại cho ông cả     vinh quang lẫn cay đắng, với nghĩa là đã phải chịu đựng những hệ lụy     không đáng có, liên tục trong những năm dài hoạt động cách mạng của     mình.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Đối với phần đông nhân loại tiến bộ là bạn bè của Việt Nam, Hồ Chí     Minh là biểu tượng trong sáng, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa     “người chiến sĩ yêu nước nồng nàn” với “người chiến sĩ quốc tế trong     sáng”- suốt đời chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình và     sự nghiệp giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức. Ông J. Sainteny -     người đã “đối mặt với Hồ Chí Minh” trong nhiều năm, từng viết: “&lt;i&gt;Trong     đời tôi, có biết bao nhiêu lần người ta đã hỏi tôi: ông là người     biết rõ Cụ Hồ, vậy Cụ là một người quốc gia (dân tộc) hay là người     cộng sản? Câu trả lời rất đơn giản: “Cụ Hồ vừa là người này, vừa là     người kia. Đối với Cụ, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản, mục     đích và phương tiện, bổ sung cho nhau, hay nói đúng hơn, hòa quyện     vào nhau”.&lt;/i&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn1" name="_ednref1" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;Với     một cách diễn đạt khác, cố Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng cũng có     lần nói: Hồ Chí Minh là &lt;i&gt;người yêu nước&lt;/i&gt; 100% mà cũng lầ &lt;i&gt;    người cộng sản &lt;/i&gt;100% !&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Nhưng oái oăm thay, trong một thời gian dài, từ những năm 30 cho đến     những năm 50 thế kỷ trước và cả ngày nay, Hồ Chí Minh lại lâm vào     thế &lt;i&gt;ở giữa hai làn đạn&lt;/i&gt;: &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; &lt;i&gt;    Đối với những người đối lập&lt;/i&gt;, Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn &lt;b&gt;    Ái Quốc&lt;/b&gt;     - người yêu nước. &amp;nbsp;Theo họ, sau khi rời bỏ Đảng Xã hội Pháp, bỏ     phiếu tán thành gia nhập Quốc tế 3, rồi đi Maxkva, Nguyễn đã từ bỏ     chủ nghĩa quốc gia-dân tộc của nhóm Phan Châu Trinh, Phan Văn     Trường, trở thành người cộng sản - một người cộng sản thuần thục,     một phần tử staliniste, một Kominterchik đắc lực, được Staline cử vè     để “xích hóa” cả khu vực Đông Nam Á!, v.v..&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Theo họ, không có cái gọi là “sự thất sủng” của Hồ Chí Minh thời kỳ     1934-1938, vì hầu hết các lãnh tụ cộng sản đại diện cho đảng mình ở     QTCS thời gian đó đều bị thanh trừng và giết hại, duy chỉ có một     mình Hồ Chí Minh sống sót, ngôn luận Hồ Chí Minh khi phê phán     trôtxkít hồi đó đều giống hệt ngôn luận của Staline,…&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; &lt;i&gt;    Đối với Chính phủ các nước phương Tây&lt;/i&gt; như Mỹ, Anh, Pháp và Trung     Hoa Tưởng Giới Thạch,…Chính phủ Hồ Chí Minh &lt;i&gt;vỏ là Việt Minh nhưng     ruột là cộng sản! &lt;/i&gt;Người Pháp không lạ gì lai lịch Hồ Chí Minh -     con người mà họ đã tốn bao công sức săn đuổi, tìm diệt mà không     thành công. Người Mỹ, theo tình báo của họ, cũng cho Hồ Chí Minh là     cộng sản, thân Maxkva, nên không công nhận Chính phủ Hồ Chí Minh sau     1945. Lúc đầu họ còn giữ thái độ trung lập trong cuộc xung đột     Việt-Pháp, sau khi Roosevelt chết, Truman đã hoàn toàn ủng hộ Pháp     trở lại cai trị Đông Dương.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Lư Hán, Tiêu Văn,…đem gần 20 vạn quân Tưởng vào bắc Việt Nam , tiếng     là để giải giáp quân Nhật, nhưng không dấu diếm mục tiêu “diệt Cộng,     cầm Hồ”, hòng dựng lên một chính quyền gồm những tay chân trung     thành với họ. Một học giả Đài Loan, ông Tưởng Vĩnh Kính, cũng cho Hồ     Chí Minh là “&lt;i&gt;nhất cá dân tộc chủ nghĩa ngụy trang giả”&lt;/i&gt;, nghĩa     là một người cộng sản đội lốt chủ nghĩa dân tộc mà thôi!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Nhưng bi kịch hơn lại là ở chỗ chính &lt;i&gt;QTCS và các học trò của Hồ     Chí Minh&lt;/i&gt;, từng được ông huấn luyện, sau được Maxkva đào tạo lại,     trở thành những người cộng sản “cứng rắn”, đã quay lại phê phán Hồ     Chí Minh rất nặng nề: là &lt;i&gt;phần tử hữu khuynh, dân tộc chủ nghĩa&lt;/i&gt;,…nhất     là sau khi thoát khỏi vụ án Hồng Kông, trở về được Maxkva, Hồ Chí     Minh không chỉ bị phê phán về quan điểm mà còn bị nghi vấn nghiêm     trọng cả về chính trị.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;Có thể chía những     hệ lụy mà Hồ Chí Minh phải chịu đựng, chung quanh &lt;i&gt;mối quan hệ dân     tộc và giai cấp&lt;/i&gt;, thành mấy giai đoạn như sau:&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; &lt;/span&gt;&lt;b&gt;    &lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Giai đoạn 1: 1928-1933&lt;/span&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;(từ Hội nghị hợp nhất đến khi N.A.Q.bị bắt) &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     1. Sau phản biến của Tưởng Giới Thạch 12-4-1927, mặt trận Quốc -     Cộng hợp tác tan vỡ, tín nhiệm của Hồ Chí Minh bị suy giảm, các nhân     vật chủ chốt trong phái bộ của M. Borodine đều mất chức, ít năm sau     thì bị thanh trừng. Hồ Chí Minh không được giữ lại Maxkva, phải tự     tìm đường về Xiêm để tiếp tục hoạt động. Thời gian ở Xiêm, trước và     sau Đại hội VI QTCS (1928), Hồ Chí Minh cũng không có liên lạc gì     với QTCS.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: inherit; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Trước tình trạng chia rẽ giữa các nhóm cộng sản trong nước, một     thành viên cũ của tổ chức “Thanh Niên” đã tìm đường sang Xiêm báo     cáo với Hồ Chí Minh. Ý thức được cương vị và trách nhiệm của mình     đối với CM Việt Nam , Hồ Chí Minh đã chủ động đứng ra triệu tập Hội     nghị Hợp nhất, xóa bỏ được bất đồng, thành lập Đảng CS Việt Nam,     thảo &lt;b&gt;&lt;i&gt;Chính cương, Sách lược vắn tắt, &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;ra&lt;b&gt;&lt;i&gt; Lời kêu     gọi &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;…Từ nội dung các văn kiện đến cách tiến hành hội nghị     của Hồ Chí Minh, đều thể hiện sự quán triệt tinh thần của Lênin và     nghị quyết Đại hội V QTCS (1924).&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;Có thể tóm tắt mấy     quan điểm cơ bản của Lênin trong &lt;i&gt;Sơ thảo Luận cương&lt;/i&gt; cũng như     khi ông phát biểu tại Đại hội II QTCS (1920) về vấn đề dân tộc và     thuộc địa, như sau:&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     - “&lt;i&gt;Mọi phong trào dân tộc (ở thuộc địa) chỉ có thể là dân chủ tư     sản thôi, vì quảng đại quần chúng nhân dân ở các nước lạc hậu là     nông dân, tức là những người đại diện cho những quan hệ tư bản.     Nếu…những đảng vô sản ở trong các nước đó…không ủng hộ phong trào     này trên thực tế, mà lại có thể thi hành sách lược và chính sách     cộng sản trong những nước lạc hậu đó, thì là không tưởng”.&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     - “&lt;i&gt;QTCS nên lập khối liên minh tạm thời với phái dân chủ tư sản ở     các nước thuộc địa và các nước chậm tiến,…nhưng phải giữ vững tính     độc lập của phong trào vô sản, dù cho phong trào này còn ở dưới hình     thức phôi thai nhất”.&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     - “&lt;i&gt;Phải áp dụng như thế nào sách lược và đường lối chính trị cộng     sản trong những điều kiện các quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa còn     thống trị ở đó, vì thế không thể nói đến phong trào thuần túy vô sản     được, do ở đó hầu như không có giai cấp vô sản công nghiệp”…&lt;/i&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn2" name="_ednref2" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Những quan điểm này của Lênin đã được Nguyễn Ái Quốc tiếp thu vì nó     đúng với thực tiễn của phong trào GPDT ở phương Đông và Việt Nam,     nên đã quán triệt nó khi viết &lt;b&gt;&lt;i&gt;Đường Kách Mệnh&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; và soạn     thảo &lt;b&gt;&lt;i&gt;    Chính cương, Sách lược vắn tắt&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;,… Nhưng tất cả đều bị phủ     định và phê phán, vì vào thời điểm này người ta đã xa rời các quan     điểm đúng đắn ấy của Lênin.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Vậy bước chuyển sang đường lối “tả” khuynh của Staline và Đại hội VI     QTCS (1928) diễn ra trong bối cảnh lịch sử nào?&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     -Cuộc phản biến của Tưởng Giới Thạch - đại biểu của giai cấp tư sản     Trung Quốc- đã phá vỡ mặt trận hợp tác Quốc-Cộng của Tôn Dật Tiên     đồng thời cũng làm thất bại sách lược liên minh của Staline và QTCS.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     -Cuộc Tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản 1929-1933 đang đến gần,     dẫn đến những dự báo lạc quan về triển vọng bùng nổ CM vô sản ở châu     Âu, đến sự đánh giá phiến diện về tính chất của giai cấp tư sản và     vai trò của các đảng dân chủ xã hội QT2. &amp;nbsp;Khẩu hiệu “giai cấp chống     giai cấp” được đề cao, họ nhấn mạnh độc quyền lãnh đạo của giai cấp     vô sản và nôn nóng thực hiện ngay CMVS,…&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     -Đây cũng là thời điểm Staline đã giành được chiến thắng tuyệt đối     trong cuộc đấu tranh giành quyền lực trong nội bộ ĐCS Liên Xô. Tại     Hội nghị toàn thể BCH QTCS thời gian đó, Otto Kuusinen - Ủy viên     Đoàn CT Quốc tế cộng sản, phụ trách vấn đề thuộc địa- đã kêu gọi các     ĐCS “hãy gột rửa mình khỏi chủ nghĩa cơ hội để trở nên tinh khiết”.     Ông cũng nhắc nhở các ĐCS ở thuộc địa cần có sự điều chỉnh chính     sách, &lt;i&gt;sao cho có tính chất giai cấp mạnh mẽ hơn.&lt;/i&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Vì vậy, báo cáo của     Nguyễn Ái Quốc về kết quả của Hội nghị hợp nhất đã không được thừa     nhận. Trong một thư gửi Nguyễn Ái Quốc, &amp;nbsp;Ban Viễn Đông QTCS có viết:     “Chúng tôi có thể quả quyết rằng, trong thực tế, đồng chí đã xa rời     những nguyên tắc đó” (tức những nguyên tắc mà Đại hội VI QTCS (1928)     đã thông qua, được nêu trong &lt;b&gt;Chỉ thị&lt;/b&gt; mà Nguyễn Ái Quốc không     nhận được-hoặc không được gửi cho).&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn3" name="_ednref3" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[3]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Trần Phú, Ngô Đức Trì là những học viên lớp đầu của Trường Phương     Đông trong khoảng thời gian từ 1927 đến 1930, đã được đào luyện rất     kỹ theo tinh thần “giai cấp chống giai cấp” của Đại hội VI, trở     thành những người cộng sản ‘cứng rắn”, được cử về để “uốn nắn” lại     những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc !&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Người phê phán gay gắt nhất Nguyễn Ái Quốc là Trần Phú. Tại Hội nghị     TƯ tháng 10-1930, ông phê phán những sai lầm về chính trị và tổ chức     của Hội nghị hợp nhất là “&lt;i&gt;chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi     ích giai cấp đấu tranh, ấy là một sự rất nguy hiểm”,&lt;/i&gt; về “&lt;i&gt;chia     địa chủ làm đại, trung và tiểu địa chủ&lt;/i&gt;”, về “&lt;i&gt;nóí&amp;nbsp; phải     lợi dụng bọn tư bản mà chưa rõ mặt phản cách mạng”,&lt;/i&gt; cùng một số     sai lầm khác, sau đó ra nghị quyết ‘&lt;i&gt;thủ tiêu Chính cương, Sách     lược và Điều lệ cũ của Đảng”&lt;/i&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn4" name="_ednref4" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[4]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;i&gt;.&lt;/i&gt;     Sau Hội nghị TƯ 10-1930, trong thư gửi QTCS ngày 17-4-1931, ông còn     phê phán nội dung Hội nghị hợp nhất “&lt;i&gt;mang nặng dấu ấn các tổ chức     CM cũ, các vấn đề cơ bản đều mâu thuẫn với đường lối QTCS (&lt;/i&gt;do     thiếu một chính sách giai cấp&lt;i&gt;),…mang dấu ấn nhất định của thời kỳ     Quốc -Cộng hợp tác 1925-1927”&lt;/i&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn5" name="_ednref5" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[5]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;i&gt;.&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Trần Phú được cử làm Tổng bí thư, Nguyễn Ái Quốc sau đó bị mất vai     trò lãnh tụ tối cao, chỉ còn là cái “thùng thư” trung chuyển giữa     Ban TƯ trong nước với QTCS và ngược lại. Nhiều bài báo Nguyễn Ái     Quốc gửi về Maxkva thời gian này đã không được đăng trên &lt;b&gt;&lt;i&gt;    Inprecor&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, như chính Nguyễn Ái Quốc thắc mắc trong thư gửi     QTCS ngày 2-1-1931.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     2. Sau khủng bố trắng 1930-1931, BCH TƯ trong nước hầu hết bị bắt và     hy sinh, Nguyễn Ái Quốc và nhiều cán bộ của Chi nhánh Ban Viễn Đông     ở Thượng Hải cũng bị bắt, nhân vật nổi lên lúc này là Hà Huy Tập.     Tuy chưa về nước, nhưng trong những tài liệu viết gửi QTCS, để tỏ rõ     sự kiên định mácxít của mình, ông đã không bỏ lỡ cơ hội nào có thể     để phê phán những quan điểm “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc về mối quan     hệ giữa giai cấp và dân tộc, về sắp xếp lực lượng cách mạng và về     sách lược liên minh, hợp tác trong CM, v.v..&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;Ông từng viết: &lt;i&gt;    Đường Cách mệnh&lt;/i&gt; là cuốn sách cực kỳ sơ đẳng, đã định nghĩa CM     Việt Nam là một cuộc CM chống đế quốc “&lt;i&gt;nhưng họ chưa bao giờ nói     rõ rằng giai cấp nào phải là người lãnh đạo cuộc CM này (g/c tư sản     hay g/c vô sản?)… Người ta cho rằng trước hết cần phải tiến hành CM     dân tộc, trước khi làm CM thế giới, nhưng hoàn toàn quên rằng CMGPDT     là một bộ phận không tách rời của CM thế giới,…Họ vẫn có một lý luận     chính thức, theo đó cần phải liên kết tất cả mọi giai cấp trong thời     kỳ tranh đấu chống chủ nghĩa đế quốc. Không hơn không kém, lý luận     đó có nghĩa là sự hợp tác giai cấp,…không xác định động lực của CM     Đông Dương và không hiểu đúng độc&lt;/i&gt; &lt;i&gt;quyền lãnh đạo của giai cấp     vô sản&lt;/i&gt;…”&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn6" name="_ednref6" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[6]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;.     Ông mỉa mai: đó là thứ lý luận “ngu ngốc”, “không thể nhịn cười     được”.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;Ngay cả khi được     tin Nguyễn Ái Quốc đã lâm bệnh, qua đời ở Hồng Kông, trong bài viết     như để truy điệu, Hà Huy Tập cũng không quên nhắc đến những “sai     lầm” của Nguyễn Ái Quốc: “&lt;i&gt;Công lao mà ông đã đóng góp cho Đảng     chúng ta thật là lớn. Song các đồng chí chúng ta trong lúc này không     được quên những tàn dư dân tộc chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quốc, các chỉ     thị sai lầm của ông về những vấn đề cơ bản của phong trào CM…Ông đã     không đưa ra bàn luận trước về những sách lược mà QTCS đòi hỏi phải     áp dụng để loại bỏ những phần tử cơ hội trong Đảng. Ngoài ra, ông     còn khuyến dụ một sách lược cải lương và hợp tác sai lầm: trung lập     hóa tư sản và phú nông, liên minh với trung và tiểu địa chủ”.&lt;/i&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn7" name="_ednref7" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[7]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Đương nhiên, đây là     sự phê phán một chiều, do một mình Hà Huy Tập tiến hành, trong&amp;nbsp;     khi Nguyễn Ái Quốc vẫn còn đang bị tù ở Hồng Kông.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Giai đoạn 3: 1934-1938&lt;/span&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;     ( &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;sau khi Nguyễn Ái Quốc đã trở về Maxkva) &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Có thể nói đây là     giai đoạn khó khăn nhất của Nguyễn Ái Quốc, là những năm tháng ông     phải chịu đựng những thử thách nặng nề, phải vượt qua những nghi kỵ     đau đớn, không phải trước kẻ thù mà trước những người đồng chí của     mình. Trong thư ngày 29-6-1935 của bà V. Vasilieva gửi Ban bí thư     Ban Viễn Đông, có nêu một nghi vấn: “&lt;i&gt;Khó xác định được tại sao     đồng chí ấy lại dễ dàng ra khỏi nhà tù và thoát khỏi tay cảnh sát     Pháp và tóm lại tại sao đồng chí ấy lại nhận được một bản án nhẹ     nhàng như vậy?”&lt;/i&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn8" name="_ednref8" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[8]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Thời gian này, Hà     Huy Tập đã trở về Trung Quốc, đứng đầu Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng.     Ngày 31-3-1935, trong thư gửi QTCS, ngoài nội dung chính là báo cáo     kết quả của Đại hội Ma Cao, trong 10 điểm nói thêm, có 2 điểm báo     cáo về Nguyễn Ái Quốc, ở điểm thứ mười, ông đã viết: “&lt;i&gt;Ở Xiêm và&lt;/i&gt;    &lt;i&gt;Đông Dương, các tổ chức cộng sản đã tiến hành một cuộc đấu tranh     công khai chống lại những tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha     trộn với chủ nghĩa cải lương của đảng Thanh niên và của đ/c Nguyễn     Ái Quốc, những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại     nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản…Chúng tôi đề nghị     đ/c Lin viết một quyển sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua&lt;/i&gt;”.&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn9" name="_ednref9" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[9]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;     Ngoài ra, báo cáo còn nói thêm một vài điểm được “nghe kể lại” nữa,     rất nguy hại về chính trị cho Nguyễn Ái Quốc.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Những thông tin của     Hà Huy Tập, cùng với những nghi vấn đang đặt ra cho Nguyễn xung     quanh vụ án Hồng Kông, đã dẫn đến quyết định của Ban Viễn Đông QTCS     về tương lai của Nguyễn Ái Quốc: &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;- Không chấp nhận     Nguyễn Ái Quốc là đại biểu chính thức của ĐCS ĐD tham dự ĐH VII QTCS     sẽ diễn ra vào tháng 7-1935;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;- Không chấp nhận     Nguyễn Ái Quốc là đại diện thường trú của ĐCSĐD bên cạnh QTCS, đề     nghị cử một ứng viên khác;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     -Thông báo về thân phận của Nguyễn Ái Quốc trong 2 năm tới: Sẽ cử đi     học, phải nỗ lực học cho tốt, rồi mới có kế hoạch sử dụng sau.&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn10" name="_ednref10" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[10]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Thời gian này, Nguyễn chỉ được tập trung vào việc học, không được     viết báo, không được đi thực tế địa phương, xí nghiệp, công     trường,…như các học viên khác. Sau khi tôt nghiệp, Nguyễn trở về     nhận công tác ở Viện nghiên cứu các vấn đê dân tộc và thuộc địa, do     Pavel Mif làm giám đốc. V.Vasilieva đã có những cố gắng để giải     thoát cho Nguyễn. Bà lập một dự án đào tạo mới cho các học viên ĐD,     “đề cử đ/c Lin tổ chức và điều hành trường này, lý do đ/c đã hoàn     tất việc học tập và nghiên cứu của mình tại Maxkva”. Nhưng dưới bản     đề nghị có bút phê của ai đó: “&lt;i&gt;Mọi đề nghị đều bị hủy bỏ, chỉ     giải quyết sau khi vấn đề đã được làm sáng tỏ”. &lt;/i&gt;Vấn đề gì, không     ai biết, nên Nguyễn lại phải ghi tên vào học tiếp một lớp nghiên cứu     sinh ngành lịch sử Đảng. Chẳng có thú vị gì phải ngồi học khi tình     hình thế giới đang chuyển biến mạnh mẽ, nên kết quả học tập của     Nguyễn đa số chỉ đạt trung bình!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Vào thời kỳ này, trong ĐCS LXô diễn ra một cuộc thanh trừng lớn. L.     Trotsky, G. Zinoviev, N.I.Boukharine đã bị đánh bại và xử trí từ     1928-29, nay đến lượt nhiều bạn bè, đ/c quen biết của Nguyễn bị vào     cuộc: Pavel Mif-Giám đốc Viện nghiên cứu các vđ dân tộc và thuộc địa     bị bắt năm 1937. Rất nhiều thành viên QTCS đã giúp thực hiện đường     lối cứng rắn những năm 1928-29 cũng bị trừng trị: Rylsky, Gailis,     Vasiliev, cả Piatnhítxky (tức Orgwald, một tên tuổi lớn), rồi     Dombal, Voline,…đều bị&amp;nbsp; lôi cuốn vào cuộc thanh trừng.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Vậy tại sao Nguyễn Ái Quốc lại có thể tồn tại được trong tình hình     ấy? Nhờ đâu? Được ai bảo vệ? Hiển nhiên là Nguyễn Ái Quốc không     tránh được có ý kiến khác với đường lối của Staline. Sự im lặng,     phục tùng không đủ sức để cứu ông, nếu ông là người Ba Lan, Đức, Thổ     nhĩ kỳ, người vùng Baltique - những nước láng giềng có chung biên     giới với Liên Xô. Họ đều bị loại, trong khi đại diện các đảng CS     Anh, Pháp, Mỹ - những nước ở xa, được đối xử khoan dung hơn. Trường     hợp Nguyễn Ái Quốc có thể giải thích như thế nào?&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     - Có thể vì chỉ là cán bộ cấp thấp, không quan trọng, là người bản     xứ ở một nước xa xôi, không có vị trí chiến lược trong chính sách     đối ngoại của LXô?&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     - Có thể vì Nguyễn Ái Quốc biết giữ minh, biết hành xử thận trọng,     không bao giờ tỏ ra là một nhà lý luận (không thích tranh cãi như     M.N. Roy của Ấn Độ, ông này đã bị khai trừ ngay sau ĐH VI QTCS).&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     - Có thể vì Nguyễn Ái Quốc đã nghiêm chỉnh chấp hành đầy đủ mọi quy     định của QTCS trong thời gian kiểm tra, thử thách, được V.Vasilieva     và André Marty,…bênh vực, che chở, được D.Manuilsky - một người có     thế lực, thân cận với Staline - thông cảm, ủng hộ, v.v..?&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Năm 1938, Pavel Mif bị xử tử, giữa năm đó, Viện nghiên cứu các vđ     dân tộc và thuộc địa bị đóng cửa. Có lẽ đây là thời điểm chín muồi     để ngày 6-6-1938, Nguyễn Ái Quốc quyết định viết thư cho     D.Manuilsky, giãi bày tâm trạng và nguyện vọng được “&lt;i&gt;giúp đỡ thay     đổi tình cảnh đau buồn” &lt;/i&gt;của mình: “&lt;i&gt;Hãy phân tôi đi đâu đó…Hãy     giao cho tôi làm một việc gì mà theo đồng chí là có &amp;nbsp;ích…đừng để tôi     phải sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động, giống như là     sống ở bên lề, bên ngoài của Đảng”.&lt;/i&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn11" name="_ednref11" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[11]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Ngày 29-9-1938,     nguyện vọng của Nguyễn Ái Quốc được chấp thuận. Do đâu? Hiển nhiên     là trước nguy cơ chủ nghia phát xít, các lực lượng dân chủ cần liên     minh lại với nhau, ở Pháp đã hình thành Mặt trận Nhân dân, ở Trung     Quốc, mặt trận hợp tác Quốc-Cộng lần thứ 2 đã được tái lập. Thực tế     đó buộc người ta phải trở lại với quan điểm của Lênin về mặt trận     thống nhất. Trước khi Nguyễn lên đường đi Trung Quốc, V.Vasilieva đã     thuyết phục D.Manuilsky gặp để nghe ông phát biểu.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;Đến đây, kết thúc     thời kỳ gần 10 năm Nguyễn Ái Quốc bị đánh giá sai, nghi kỵ, vô hiệu     hóa, để về nước trực tiêp lãnh đạo CM Việt Nam đi tới thắng lợi năm     1945.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left" class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;b&gt;    &lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Giai đoạn 4: 1945-1950&lt;/span&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;(thời kỳ CM Việt Nam bị cô lập với phong trào CSQT)    &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left" class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left" class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; -&lt;b&gt;&lt;i&gt;Bối     cảnh chính trị thế giới và Việt Nam giai đoạn này:&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left" class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Năm 1943, QTCS tuyên bố tự giải tán, để cho các ĐCS được quyền tự     chủ công việc của mình theo đặc điểm mỗi nước (một phần là sách     lược, do LX đã gia nhập Đồng Minh, phần khác, do hoàn cảnh chiến     tranh ác liệt, khó có điều kiện chỉ đạo). Đến khi chiến tranh kết     thúc, tháng 7-1947, Staline cho lập ra Cục thông tin Quốc tế CS     (Kominform) để nắm dần lại. &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Việt Nam giành được độc lập từ trong tay Nhật, nhưng chỉ vài ngày     sau lễ tuyên ngôn độc lập, gần 20 vạn quân Tưởng và các tổ chức tay     chân ồ ạt kéo vào miền Bắc; hàng vạn quân Anh-Ấn, núp sau là quân     viễn chinh Pháp, kéo vào miền Nam; tàn quân Pháp tháo chạy sang Vân     Nam trước đây, được tái vũ trang, cũng đang rục rịch trở lại miền     Băc .&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Vào thời điểm đó,Việt Nam như hòn đảo tự do giữa vòng vây của thế     giới tư bản, với sức ép của một lực lượng quân đội nước ngoài khổng     lồ ở ngay cạnh sườn (kể cả quân đội Nhật chưa giải giáp, con số lên     đến non nửa triệu quân), trong khi lực lượng vũ trang của chúng ta     còn quá nhỏ bé, trang bị rất thô sơ, chưa được huấn luyện về chiến     đấu, có thể bị đè bẹp bất cứ lúc nào.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Về chính trị, Tiêu Văn vào Việt Nam còn để hỏi tội Hồ Chí Minh: đã     nhận lời hợp tác với họ để hỗ trợ “Hoa quân nhập Việt” sao lại dám     lập chính phủ độc quyền cộng sản? Sau nhiều lần hạch sách, trách cứ,     có lần họ đã giữ Hồ Chí Minh lại tại bản doanh như một kiểu giữ con     tin để gây áp lực. Các tổ chức Việt Quốc,Việt Cách dựa thế quan     thày, ra sức gây rối hòng giành chính quyền về tay họ. Ngày     8-11-1945, Nguyễn Hải Thần gửi tối hậu thư yêu cầu Hồ Chí Minh từ     chức, xóa bỏ ngay chế độ độc tài, lập chính phủ mới không có sự kiểm     soát của ĐCS! Tối hậu thư này, được sự chuẩn bị và chuẩn y của Lư     Hán và Tiêu Văn, đe dọa: nếu Hồ Chí Minh không chấp nhận tối hậu     thư, họ sẽ không chịu trách nhiệm về một cuộc xung đột vũ trang giữa     hai bên!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Một cuộc đảo chính quân sự có thể xảy ra dưới sự đạo diễn và hỗ trợ     của quân đội Tưởng, đó là việc trong tầm tay của họ. Trước khả năng     ấy, cần phải hy sinh, nhượng bộ một cái gì đó để thoát hiểm.&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn12" name="_ednref12" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[12]&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;    Có thể tham khảo ý kiến của ai? ĐCS TQ ở tít tận Diên An và Mãn     Châu. ĐCS Pháp, từ sau CM tháng Tám, chưa có liên hệ gì với Việt     Nam. Trước nguy cơ mất còn, tự mình phải quyết đoán. Hồ Chí Minh đã     thuyết phục Trường Chinh, rồi với tinh thần dũng cảm, sẵn sàng chịu     trách nhiệm trước lịch sử, ông đã đưa ra một quyết định phi thường:&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     1.&lt;i&gt; Tuyên bố ĐCS ĐD tự giải tán ngày 11-11- 1945&lt;/i&gt; (thực chất là     Đảng rút vào hoạt động bí mật, báo &lt;i&gt;Cờ Giải phóng&lt;/i&gt; được thay     bằng tờ &lt;i&gt;    Sự Thật,&lt;/i&gt; lập ra tổ chức mới: &lt;i&gt;Hội những người nghiên cứu chủ     nghĩa Mác ở Đông Dương&lt;/i&gt;, song vai trò lãnh đạo CM của Đảng vẫn     được giữ nguyên).&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     2. &lt;i&gt;Chấp nhận cải tổ Chính phủ&lt;/i&gt; (lùi ngày Tổng tuyển cử, tạo     điều kiện cho các đảng đối lập tham gia, rồi thuyết phục Quốc hội     mới chấp nhận cho họ thêm 70 ghế đại biểu không qua bầu cử), &lt;i&gt;lập     Chính phủ Liên hiệp&lt;/i&gt; gồm 10 bộ (Việt Minh 2, Dân Chủ 2, Việt Quốc     2, Việt Cách 2, Không đảng phái 2).&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Sự nhượng bộ này là một cách tháo ngòi nổ của một cuộc đảo chinh     quân sự (mà phe Tưởng đang chuẩn bị tiến hành), nhằm bảo vệ thành     quả CM mà vai trò lãnh đạo của Đảng vẫn tồn tại trong thực tế. Tuy     vậy, giải pháp này đã gây ra phản ứng trong một bộ phận cán bộ của     Đảng (dù không bộc lộ công khai). Họ cho rằng quyết định này làm tổn     hại đến uy tín của Đảng và đòi Đảng phải được khôi phục lại ngay&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn13" name="_ednref13" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[13]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;     .&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Nhưng đến năm 1949, thì sự phản ứng này đã bộc lộ công khai, thành     một sự kiện làm ảnh hưởng đến quan hệ của Đảng CS ĐD, nhất là của Hồ     Chí Minh, với ĐCS Liên Xô và Staline. Đó là sự kiện Trần Ngọc Danh -     nguyên Trưởng phái đoàn đại diện Chính phủ&amp;nbsp;ta ở Paris, tự ý bỏ nhiệm     vụ, đào ngũ sang Praha, từ đó viết 2 bức thư gửi BCH TƯ ĐCS Liên Xô,     với nội dung:&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     +&lt;i&gt;Phê phán đường lối chính trị cơ hội của ĐCS ĐD&lt;/i&gt;: đã công khai     giải tán Đảng ngày 11-11-1945, việc này được thực hiện với sự can     thiệp tích cực của Hồ Chí Minh. Đường lối mà Hồ Chí Minh áp dụng     hiện nay chính là sự tiếp tục đường lối mà ông ta đã khởi xướng từ     năm 1930 (tức Chính cương, Sách lược vắn tắt) và đường lối ông ấy     đưa ra tại Hội nghị TƯ 8 tháng 5-1941, là &lt;i&gt;đường lối theo chủ     nghĩa dân tộc tư sản.&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     +Từ đó, Trần Ngọc Danh quy kết những người cộng sản Việt Nam hiện     nay &lt;i&gt;    đang đi ngược lại chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã trở thành     người chống Đảng, thù nghịch với Liên Xô, đã từ bỏ chủ nghĩa quốc tế     vô sản và học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác,…&lt;/i&gt;Cuối thư, Trần     Ngọc Danh cam kết trung thành với ngọn cờ của Lénine và Staline, mãi     mãi là người cộng sản chân chính…&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn14" name="_ednref14" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[14]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Sự kiện Trần Ngọc Danh xảy ra tháng 10-1949, gần kề với chuyến đi     của Hồ Chí Minh tới Bắc Kinh và Maxkva đầu năm 1950, nhằm phá vòng     vây, tìm kiếm sự công nhận về ngoại giao và sự viện trợ quân sự cho     cuộc kháng chiến của Việt Nam, sự kiện đó đã gây cho Hồ Chí Minh     không ít phiền toái!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     -&lt;b&gt;&lt;i&gt;Bối cảnh chuyến đi của Hồ Chí Minh đầu năm 1950:&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Như đã nói ở trên, cuộc kháng chiến của Việt Nam diễn ra trong tình     thế gần như bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài: ít được thế     giới biết đến, không nhận được sự chi viện nhỏ nào, dù chỉ về chính     trị-tinh thần. Ngay Đảng cộng sản Pháp lúc đó cũng chưa mặn mà gì     với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, vì họ vẫn coi trọng đấu     tranh giai cấp, còn đấu tranh giải phóng dân tộc vẫn bị coi là thuộc     phạm trù cách mạng tư sản !&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn15" name="_ednref15" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[15]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Hồ Chí Minh đã làm gì để phá thế bị bao vây đó?&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Đầu năm 1946, Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thư và công hàm chính     thức tới Liên Hiệp Quốc và những người đứng đầu Chính phủ 4 nước lớn     là Mỹ, Anh, Liên Xô và Trung Hoa Tưởng Giới Thạch, đề nghị 2 điều:     can thiệp để giúp chấm dứt cuộc đổ máu đang diễn ra ở Nam Việt Nam     và đưa vấn đề Việt Nam ra Liên Hiệp Quốc. Nhưng không nhận được hồi     âm nào. Sau này được biết: Liên Xô nhận công hàm, nhưng có bút phê     của Thứ trưởng Kozyrev khi đó: “Không trả lời”.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Hồ Chí Minh quyết định cử 2     phái đoàn thân thiện của Chính phủ ta đi thăm Pháp và Trung Hoa.     Phái đoàn đi Paris do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn, phái đoàn đi     Trùng Khánh lúc đầu giao cho Cố vấn Vĩnh Thụy, nhưng ông ta không     nhận, nên Nghiêm Kế Tổ, người của VNQDĐ, lúc đó là Thứ trưởng Bộ     Ngoại giao, được làm trưởng đoàn. Đến Trùng Khánh, đoàn xin được yết     kiến Tưởng, nhưng Tưởng không nhận tiếp phái đoàn một Chính phủ cộng     sản, &amp;nbsp;chỉ &amp;nbsp;nhận tiếp riêng một mình cựu hoàng Bảo Đại!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Tiếp theo, Chính phủ ta cho lập 2 Văn phòng thông tin của nước     VNDCCH, một ở Paris, một ở Bangkok, để tuyên truyền quốc tế cho cuộc     kháng chiến của ta, nhưng hoạt động cũng không mấy hiệu quả. Năm     1947, Hồ Chí Minh cử Phạm Ngọc Thạch, với tư cách đại diện Văn phòng     Chủ tịch Hồ Chí Minh,&amp;nbsp; vượt sông Mê công, sang Pháp gặp     M.Thorez và J.Duclos, rồi sang Thụy Sĩ gặp Đại sứ Liên Xô     Koulajenkov, đến Ấn Độ vừa tuyên bố độc lập, gặp J.Nerhu,…để thông     báo về cuộc kháng chiến anh dũng của Việt Nam, đề nghị giúp đỡ về     vật chất và tinh thần,…Nhưng đều không đạt kết quả gì.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Trong khi đó, giữa năm 1948, Liên Xô lại ra tuyên bố chính thức công     nhận Chính phủ Jakarta và lập quan hệ ngoại giao ở cấp lãnh sự!     Chính vào đêm 28-5-1948, sau lể thụ phong hàm Đại tướng cho Võ     Nguyên Giáp, về đến nơi nghỉ, Hồ Chí Minh mở radio nghe bản tin đêm,     thì sửng sốt nhận được tin này.&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn16" name="_ednref16" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[16]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Thu-Đông 1947, ta đánh thắng chiến dịch 2 gọng kìm của Pháp, nhưng     xuýt nữa, họ bắt được cơ quan đầu não của ta. Nếu Pháp liên minh     được với Tưởng, dưới đánh lên, trên đánh xuống, cuộc kháng chiến của     quân dân ta có nguy cơ bị thất bại. Điều đó cho thấy phải tranh thủ     cầu hòa với Chính phủ Tưởng Giới Thạch, nhằm trung lập hóa vai trò     của họ. Cuối 1948 (hay đầu 1949), một phái đoàn được cử sang Trung     Quốc, đến Nam Kinh, Thượng Hải, tất nhiên với “lễ vật” hậu hĩnh. Đến     nay, chuyến đi vẫn chưa được giải mã, nên chưa thể nói cụ thể, chỉ     biết rằng trong chuyến đi đó, có mang theo một cuốn “Tiểu sử Hồ Chủ     tịch” để dịch và xuất bản ở Thượng Hải&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn17" name="_ednref17" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[17]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Tại sao cần thiết phải công bố Tiểu sử Hồ Chí Minh vào thời gian     này, lại chỉ công bố ở nước ngoài, nhằm mục tiêu gi? Các thế lực     chống đối Hồ Chí Minh chỉ nghĩ ra được một điều xuyên tạc tầm     thường: Hồ Chí Minh chẳng phải người có đạo đức khiêm tốn gì, tự     mình viết TS để ca ngợi mình(?) v.v..Nếu chỉ cần có thế thì Hồ Chí     Minh đã có thừa. Sự tôn kính, lòng cảm phục và tin tưởng của nhân     dân Việt Nam đối với Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh được hình thành từ     cuộc đời bôn ba cách mạng, vào tù ra khám của Người; sau thắng lợi     của CM tháng Tám lại được bổ sung thêm bằng những “sáng tác dân     gian”, làm cho tên tuổi Hồ Chí Minh đã sớm trở thành huyền thoại, có     viết thêm nữa cũng không sánh được !&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Cuốn sách này ra mắt &lt;i&gt;chủ yếu nhằm thực hiện sách lược chính trị     đối ngoại.&lt;/i&gt;     Như đã nói ở trên, vào thời gian này, Hồ Chí Minh đang đứng trước     hai làn đạn: các Chính phủ phương Tây (Anh, Mỹ, Pháp, Tưởng,…) coi     ông là Cộng sản nên chống lại, còn Quốc tế cộng sản &amp;nbsp;lại cho ông là     đã xa rời học thuyết đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, rơi     vào hữu khuynh, dân tộc chủ nghĩa, có vẻ muốn “ve vãn” phưong Tây     nên cũng không công nhận! Trước mắt, để tránh hiểm họa, muốn cầu     thân với Tưởng, phải làm giảm nghi ngờ của họ. Cuốn “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Hồ Chí     Minh truyện&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;” do Trương Niệm Thức dịch, xuất bản ở Thượng Hải     tháng 6-1949 (chưa giải phóng) là nhằm mục tiêu đó.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Vì vậy, cuốn truyện của Trương Niệm Thức chủ ý muốn làm cho người     đọc thấy Hồ Chí Minh vốn có nhiều mối quan hệ thân tình với Trung     Quốc. Mở đầu, cuốn sách đưa ra bài viết của tướng Hoàng Cường -     người đã từng du học ở Pháp, có quen biết Nguyễn Ái Quốc, thời kháng     Nhật là Tham mưu trưởng Lộ quân thứ 19, sau ngày Nhật đầu hàng, ông     vào bắc Việt Nam giải giáp quân Nhật- đã bài viết ca ngợi Hồ Chí     Minh: là nhà CM giản dị và nhân hậu, biết nhiều ngoại ngữ, đã có     nhiều năm sống ở Trung Quốc, rất thạo tiếng Quảng Đông và cả tiếng     phổ thông, đã từng dịch cuốn “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Tam Dân chủ nghĩa&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;” của     Tôn Dật Tiên ra tiếng Việt,..Tác giả muốn chứng minh rằng VNTNCM     đồng chí Hội được tổ chức theo chính cương, đường lối và phương pháp     đấu tranh của Tôn Dật Tiên: &lt;i&gt;Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân     sinh hạnh phúc.    &lt;/i&gt;Có người hỏi: ông Nguyễn theo CNCS hay theo CN TDTiên, ông trả     lời rất khéo: Khổng tử, Jésus, Mác, TDTiên, các vị đó đều có mục     tiêu giống nhau là mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại…Tôi cố gắng làm     người học trò nhỏ của họ. Tôi vẫn là tôi ngày trước: &lt;i&gt;một người     yêu nước &lt;/i&gt;(nhất cá ái quốc giả), v.v..(Những nội dung này không     có trong bản in ở Pháp - thay vào đó là bài của Léo Poldès có nội     dung cần cho người đọc ở phương Tây, điều này không có trong “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Những     mẩu chuyện&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;…” lần đầu tiên được xuất bản 1955 ở Hà Nội cũng     như các lần tái bản sau). &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Tuy nhiên, tình hình quốc tế đã chuyển biến quá nhanh. Cuối năm     1949, CM Trung Quốc thành công, nước CHND Trung Hoa ra đời, làm     nghiêng hẳn cán cân lực lượng về phe xã hội chủ nghĩa. Tháng 10 năm     đó, nước CHDC Đức thành lập. Cuộc chiến tranh lạnh đã lên đỉnh cao ở     Châu Âu. Ở Châu Á, thắng lợi của cách mạng Trung Quốc khiến Mỹ lo     ngại: một số nước ở ĐNÁ có khả năng&amp;nbsp; ngả theo con đường cộng     sản hóa, nếu Pháp thất bại ở Đông Dương. Mỹ thấy đã đến lúc phải     nhảy vào can thiệp,…&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Tình hình đó khiến Hồ Chí Minh thấy tự mình phải xuất tướng phá vòng     vây, trước tiên là đàm phán với Trung Quốc, sau đó qua trung gian     của Trung Quốc để tới Liên Xô. Chuyến đi có 2 thuận lợi: một là quân     đội nhân dân Việt Nam vừa lập một chiến công đầy tinh thần quốc tế:     phối hợp với giải phóng quân Trung quốc trong chiến dịch Thập Vạn     Đại Sơn, giải phóng Long Châu, Khâm Châu, Phòng Thành,…một vùng biên     giới sát với Cao Bằng. Chiến công này được Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân     Lai,…hết sức ca ngợi, coi đó là một biểu hiện cao cả của chủ nghĩa     quốc tế vô sản; hai là chuyến đi lại trùng khớp với cuộc hội đàm     Trung - Xô để ký kết Hiệp định hợp tác tương trợ giữa 2 nước vừa bắt     đầu tại Maxkva.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Cuộc đàm phán Trung -Việt diễn ra thuận lợi, những yêu cầu Hồ Chí     Minh nêu ra với Trung Quốc đều nhanh chóng được đáp ứng, vì nó gắn     liền với lợi ích thiết thân của Trung Quốc. Sau đó, nhờ sự thuyết     phục của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đang có mặt tại Maxkva với     Staline, Hồ Chí Minh đã được mời sang thăm Liên Xô.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; &lt;b&gt;&lt;i&gt;    Nhưng Hồ Chí Minh đã được Staline đón tiếp như thế nào?&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;i&gt;    &lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;    - Hồ Chí Minh đến Maxkva, TƯ Đảng cộng sản Liên Xô mở tiệc chiêu     đãi, có mặt đủ cả, riêng Staline tránh mặt, không tiếp. Một, có thể     là do bị ràng buộc bởi Hiệp định bất tương xâm đã ký với De Gaulle     năm 1944 (có giá trị 20 năm), ông không muốn làm mất lòng Pháp, vì     Pháp có vị trí chiến lược quan trọng trong chính sấch đối ngoại của     Liên Xô ở châu Âu hơn là Việt Nam. Hai, Staline vốn có thành kiến     sẵn với Hồ Chí Minh là hữu khuynh, dân tộc chủ nghĩa, qua những     thông tin mà KGB thu lượm được về cuộc tiếp xúc của người Mỹ với     Nguyễn Đức Quỳ (Trưởng Văn phòng đại diện của chính phủ ta tại     Bangkok) trong năm 1948-49, nhất là qua 2 bức thư tố cáo của Trần     Ngọc Danh. Staline rất đa nghi, e rằng đây có thể là một nhân vật     “Tito thứ hai”ở châu Á!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     - Với sự kiên trì thuyết phục của Mao và Chu rằng Hồ là nhà ái quốc     nhiệt thành đồng thời là người cộng sản, người chiến sĩ quốc tế chân     chính, cuối cùng Staline cũng nhận tiếp Hồ Chí Minh, ngay tại phòng     làm việc của mình, với sự có mặt đông đủ các nhà lãnh đạo chủ chốt     của Liên Xô, phía Trung Quốc có Đại sứ Vương Gia Tường, phía Việt     Nam có Trần Đăng Ninh.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Staline mở đầu:     Chúng ta là những người bạn, người anh em thân thiết, gặp đồng chi     hơi muộn một chút, xin thứ lỗi! Hồ Chí Minh báo cáo tóm tắt tình     hình cơ bản về ĐCSĐD, về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân     Việt Nam &amp;nbsp;và đề nghị Liên Xô giúp đỡ,…&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Staline phát biểu     chậm rãi nhưng rành rọt, đại ý:&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp; *&lt;i&gt;Tại     sao các đồng chí tự ý giải tán Đảng&lt;/i&gt;? Đ/c tưởng lừa được chủ     nghĩa đế quốc à, chính là đ/c lừa chúng tôi, vì ở xa, không biết     thực hư thế nào ( có ý trách là không xin ý kiến).&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp; *&lt;i&gt;Chính     phủ các đ/c là cái chính quyền gì&lt;/i&gt;, sao mà lắm nhân sĩ, trí thức,     địa chủ, quan lại thế?( ý nói không phải chính quyền công nông).&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp; *&lt;i&gt;Tại     sao đến nay các đ/c không tiến hành CCRĐ&lt;/i&gt;? Để đánh thắng đế quốc     Pháp, sự chi viện của quốc tế là cần thiết, nhưng phải phát động     quần chúng, động viên quần chúng, đem lại lợi ích thiết thân cho họ,     đó mới là điểm mấu chốt làm nên thắng lợi. Staline tỏ ý không hài     lòng lắm, hỏi: trong 2 cái ghế &lt;b&gt;dân tộc&lt;/b&gt; và &lt;b&gt;giai cấp&lt;/b&gt;,     đ/c ngồi trên cái ghế nào? (có ý phê bình lập trường g/c còn mơ hồ     ).&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp; *&lt;i&gt;Về     vấn đề viện trợ cho cuộc kháng chiến của Việt Nam&lt;/i&gt; , Staline nói:     CM Trung Quốc nay đã thành công, Trung Quốc đã trở thành trung tâm     của CM châu Á, &lt;i&gt;từ nay chi viện cho Việt Nam sẽ do Trung Quốc đảm     nhiệm&lt;/i&gt;, vì sát với Việt Nam . Liên Xô có nhiệm vụ giúp Trung Quốc     xây dựng kinh tế, những vũ khí chúng tôi giúp Trung Quốc, nay kết     thúc chiến tranh, cái gì không dùng nữa, hợp với Việt Nam, thì có     thể chuyển cho Việt Nam (như một sự phân công quốc tế); đồng thời     Staline cũng nhắc nhở &lt;i&gt;Việt Nam phải ra sức học tập kinh nghiệm     của Trung Quốc!&lt;/i&gt;.&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn18" name="_ednref18" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[18]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;     Tóm lại, Liên Xô không muốn dính vào vấn đề Việt Nam ở thời điểm     này. Cuộc đón tiếp được coi là hờ hững&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn19" name="_ednref19" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[19]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;.     Nhưng thắng lợi lớn nhất của chuyến đi phá vỡ vòng vây đã đạt được,     đó là &lt;i&gt;sự công nhận chính thức về ngoại giao đối với Việt Nam Dân     chủ Cộng hòa:&lt;/i&gt; Trung Quốc ngày 18-1, Liên Xô ngày 30-1-1950, sau     đó là các nước DCND còn lại, cả Nam Tư. Đảng cộng sản Việt Nam đã     tái hòa nhập với phong trào cộng sản quốc tế. Cần thừa nhận rằng     thành công này có sự đóng góp quan trọng của Đảng cộng sản Trung     Quốc, bởi nếu không phá được vòng vây này, chưa rõ CM Việt Nam sẽ     lâm vào hoàn cảnh khó khăn như thế nảo? &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;b&gt;    &lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Kết luận&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;b&gt;    &lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;Trình bày lại những     điều này để hiểu được những hệ lụy phức tạp mà chúng ta phải gánh     chịu về sau. Rất khó có thể giữ được hoàn toàn độc lập, tự chủ trong     hoàn cảnh ấy. Sự viện trợ về quân sự đi liền với áp đặt về chính     trị. Hồ Chí Minh chỉ có thể trì hoãn chứ không thể từ chối. Mối quan     hệ giữa &lt;b&gt;&lt;i&gt;dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; là một     song đề phức tạp của phong trào cộng sản thế giới, không phải lúc     nào nó cũng thống nhất được với nhau, giữa nói và làm, nhất là ở     những Đảng lớn. Chính &lt;i&gt;người cộng sản - ái quốc&lt;/i&gt; Hồ Chí Minh,     trong vai trò “huyền thoại kép” này, đã giúp ông đạt được những     thành tựu diệu kỳ cho đất nước, nhưng nó cũng gây cho cá nhân ông     bao hệ lụy cay đắng phải gánh chịu cho đến ngày nay. Sở dĩ ông vượt     qua được và thành công chính là nhờ &lt;i&gt;khả năng vận động uyển chuyển     giữa hai cực đó, nghĩa là biết điều chỉnh và thỏa hiệp nhất định với     thực tế cay nghiệt của hoàn cảnh để tồn tại và phát triển, vì lợi     ích của dân tộc và lợi ich của cách mạng&lt;/i&gt;. Có lẽ vì vậy mà ông     được thừa nhận rộng rãi ở phương Tây “là một chính trị gia và một     nhà ngoại giao tài giỏi, một người đã để lại cho đất nước mình một     khuôn mẫu về &amp;nbsp;xây dựng liên minh và thỏa hiệp mà mọi quốc gia đương     thời đều đánh giá cao”&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_edn20" name="_ednref20" style="text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;&lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;[20]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;.     Đó là một di sản tinh thần quý báu Hồ Chí Minh để lại mà chúng ta     phải thấm nhuần và phát huy thật tốt ở bối cảnh chính trị thế giới     đang biến chuyển cực kỳ phức tạp và lắt léo hiện nay./.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; &lt;i&gt;    &amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; &lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="mso-element: endnote-list;"&gt;&lt;div style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;     &lt;br clear="all" /&gt; &amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;hr align="left" size="1" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;" width="33%" /&gt;&lt;div id="edn1" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref1" name="_edn1" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       J. Sainteny: &lt;b&gt;&lt;i&gt;Face à Ho Chi Minh&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;       , Seghers, Paris, 1970, tr.33&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn2" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref2" name="_edn2" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [2]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt; &lt;b&gt;&lt;i&gt;      V.I.Lênin: Toàn tập&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, Tiến bộ, M., 1978, tâp 41, các       trang: 292, 204, 293&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn3" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref3" name="_edn3" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [3]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       Dẫn theo: &lt;b&gt;&lt;i&gt;Tài liệu tham khảo lịch sử cận đại Việt Nam&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;,       BNC Văn-Sử-Địa xb, 1956, tập 6, tr.187&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn4" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref4" name="_edn4" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [4]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt; &lt;b&gt;&lt;i&gt;      Văn kiện Đảng TT&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, CTQG xb 1998, t. 2, tr. 110-112&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn5" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref5" name="_edn5" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [5]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       Tài liệu lưu trữ tại Phông QTCS, nay là &lt;b&gt;Trung tâm&amp;nbsp;       bảo tồn và nghiên cứu các tài liệu lịch sử hiện đại Nga,&lt;/b&gt;viết       tắt là &lt;b&gt;R.C&lt;/b&gt;. ký hiệu&amp;nbsp; 495.154.462.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn6" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref6" name="_edn6" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [6]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt; &lt;b&gt;&lt;i&gt;      Văn kiện Đảng TT&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, t.4, tr. 367&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn7" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref7" name="_edn7" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [7]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       Bài đăng trên &lt;b&gt;&lt;i&gt;Tạp chí Bônsêvích      &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;(Cahier du Bolchévisme)&lt;b&gt;&lt;i&gt; &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;số 8, tháng       12-1934. Dẫn lại theo Daniel Hemery &lt;b&gt;&lt;i&gt;: Ho Chi Minh , De       l’Indochine au Viet Nam ,&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; p. 73&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn8" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref8" name="_edn8" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [8]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       Tư liệu lưu tại R.C., ký hiệu 495.201. hồ sơ 1, các tr.       154-155-155a. Toàn văn bức thư đã được dịch va in trong sách &lt;b&gt;&lt;i&gt;      Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông&amp;nbsp; 1931-1933&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, CTQG,       2004, tr.239&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn9" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref9" name="_edn9" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [9]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt; &lt;b&gt;&lt;i&gt;      Văn kiện Đảng TT&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, t. 5, tr. 204&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn10" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref10" name="_edn10" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [10]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       V. Vasilieva: &lt;b&gt;&lt;i&gt;Thư gửi các đồng chi Đông Dương&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;,       R.C. ký hiệu 495.154.585, tr.11&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn11" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref11" name="_edn11" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [11]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt; &lt;b&gt;&lt;i&gt;      Hồ Chí Minh TT&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, T.3, tr. 90&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn12" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref12" name="_edn12" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [12]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       Stein Tonnesson, trong cuốn &lt;b&gt;&lt;i&gt;      Vietnam 1946: How the war began &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;(Việt Nam 1946:       Chiến tranh đã khởi đầu như thế nào), NXB ĐH, California,       Berkeley, 2010, đã đề cập đến khả năng đảo chính này, nhưng       theo ông, Quốc dân đảng Trung Hoa không&amp;nbsp; thực hiện mà       ép bọn tay chân phải tham gia CP liên hiệp. Nếu họ cũng hành       động như người Mỹ với CP thiên tả ở Seoul, như người Anh với       CP ở Jakarta,…thì CP Hồ Chí Minh&amp;nbsp; rất ít cơ hội tồn       tại. Thay vì cảm ơn, Việt Nam lại chê trách họ (!). Đây là       một ngộ nhận của nhà sử học. Điều cần nói là Hà nội năm 1946       khác xa với Seoul và Jakarta cùng thời điểm ấy.Trung Hoa QDĐ       cũng không có thế mạnh như Anh, Mỹ. Sức mạnh của chủ nghĩa       yêu nước và ý chi ngoan cường đấu tranh để bảo vệ nền Độc       lập của nhân dân Việt Nam như thế nào, những người Trg Hoa       QDĐ có mặt ở Hà Nội đã nhận thấy, họ rất muốn làm mà không       dám làm vì đang phải lo đối phó với thất bại trong cuộc nội       chiến. Đáng tiếc, đó lại là điều mà ô.. S.Tonnesson chưa       nhận thấy.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn13" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref13" name="_edn13" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [13]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       Có thể số thắc mắc không it, nên đến Hội nghị cán bộ TƯ lần       5 (từ 8 đến 16-8-1948, thay mặt Ban Thường vụ TƯ, Lê Đức Thọ       đã phải giải thích về sự kiện này. Xem Văn kiện Đảng TT,       t.9, tr. 316-317.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn14" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref14" name="_edn14" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [14]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       Xem thêm: Christopher E. Goscha “Tai bay vạ gió trong ngoại       giao? Những nỗi chuân chuyên của Việt Nam trên đường hội       nhập phong trào Quốc tế cộng sản 1945- 1950”.Đông Hiến dịch.       Talawas 13-02-2007.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn15" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref15" name="_edn15" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [15]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       M. Thorez, TBT ĐCS Pháp, năm 1946 đang làm Phó Thủ tướng       trong&amp;nbsp; CP liên minh với Đảng Xã hội, đã nói với Đô đốc       D’Argenlieu rằng: “Đô đốc ạ….tất nhiên tôi momg rằng mọi sự       giải quyết êm thấm với Việt Minh, nhưng tóm lại-&lt;i&gt;với&lt;/i&gt; &lt;i&gt;      một giọng chắc nịch&lt;/i&gt;- màu cờ của chúng ta trên hết! Vậy       nếu phải đánh thì cứ đánh, đánh cho mạnh!(Nguyên văn:       “Amiral,…je souhaite naturellement que tout se règle aux       mieux avec le Vietminh, mais enfin- &lt;i&gt;      d’un ton&lt;/i&gt; &lt;i&gt;convaincu&lt;/i&gt;- nos couleurs avant tout! Et       donc s’il faut cogner, cognez et cognez dur’. ( &lt;b&gt;&lt;i&gt;      Chronique d’Indochine 1945-1947&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; của A. Thierry       D’Argenlieu, nxb Albin Michel, p. 168).&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn16" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref16" name="_edn16" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [16]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       Trong “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Nhật ký của một bộ trương&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;”, ông Lê Văn       Hiến đã ghi lại cảm xúc vô cùng cay đắng, khó hiểu của mình       vào giờ phút đó: Tại sao Staline có thể công nhận một CP tư       sản mà CP Hồ Chí Minh do ĐCS lãnh đạo lại không được ông       đoái hoài?&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn17" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref17" name="_edn17" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [17]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       Cũng thời gian này,&amp;nbsp; 1 cuốn TS tương tự cũng đươc xuất       bản bằng tiếng Việt ở Paris, đề tên tác giả là Nghị sĩ Trần       Ngọc Danh, do Chi hội Liên Việt tại Pháp xuất bản năm 1949.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn18" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref18" name="_edn18" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [18]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       Theo Trương Quảng Hoa: “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Ghi chép bí mật về quyết sách       giúp Việt Nam chống Pháp&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;”, đăng trên T/c Viêm hoàng       xuân thu, số 10 năm 1995.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn19" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;div align="left" class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref19" name="_edn19" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [19]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       Trong cuộc tiếp, nhân trên bàn có cuốn họa báo “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Liên       Xô trên công trường&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;”, có ảnh Staline, Hồ Chí Minh       bèn xin Staline một chữ ký để làm kỷ niệm. Staline ký tặng       rồi sau đó sai KGB bí mật lấy lại. Điều này làm cho Hồ Chí       Minh rất bức xúc: “Làm sao lại có thể có chuyện đó giữa       những đ/c cộng sản với nhau”?.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div id="edn20" style="mso-element: endnote;"&gt;&lt;div class="MsoEndnoteText" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://www.viet-studies.info/NgoTranDuc_HuyenThoaiKepHCM.htm#_ednref20" name="_edn20" style="text-decoration: none;"&gt;      &lt;span class="MsoEndnoteReference"&gt;      &lt;span style="vertical-align: baseline;"&gt;      [20]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;       Sophie Quinn-Judge: “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Ho Chi Minh- The Missing Years&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;”.       University of California Press Berkeley Los Angeles, p.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoEndnoteText" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;256-257.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoEndnoteText" style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif; line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoEndnoteText" style="line-height: 16pt; text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-size: medium;"&gt;&lt;span style="font-family: inherit; font-size: small;"&gt;&lt;span style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"&gt;Theo Viet-Studies.info&lt;/span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="line-height: 16pt;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6386160990305421427-7046278891168775198?l=danhnhanviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/feeds/7046278891168775198/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6386160990305421427&amp;postID=7046278891168775198' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/7046278891168775198'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/7046278891168775198'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/2011/04/them-mot-tai-lieu-quy-ve-ho-chi-minh.html' title='Thêm một tài liệu quý về Hồ Chí Minh'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/-_Id2vfGMi-Y/Sp0k1MGbByI/AAAAAAAADvs/ehEgdzhRtSI/s72-c/Ho+Chi+Minh.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6386160990305421427.post-749700507807339247</id><published>2011-02-10T17:19:00.004+07:00</published><updated>2011-09-25T09:09:28.269+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Quà xuân và thú chơi văn hoá'/><title type='text'>Quà xuân và thú chơi văn hoá</title><content type='html'>&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/-N4JgPeN0kzA/TVO3tvBt93I/AAAAAAAAICM/OkNCFtBXR6A/s1600/Huu+Ngoc.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" h5="true" height="232" src="http://3.bp.blogspot.com/-N4JgPeN0kzA/TVO3tvBt93I/AAAAAAAAICM/OkNCFtBXR6A/s320/Huu+Ngoc.jpg" width="320" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;DANH NHÂN VIỆT. Cụ Hữu Ngọc là nhà văn hoá lớn, tác giả của bộ sách "Lãng du trong văn hoá Việt Nam" dày 1050 trang do Nhà Xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2007. Bản tiếng Anh &lt;em&gt;Wandering through Vietnamese culture&lt;/em&gt; đã được tặng Giải Vàng sách Việt Nam 2006;Cụ là người mà Trần Đăng Khoa gọi là "con khủng long kỳ vĩ" trong "&lt;a href="http://www.viet-studies.info/TranDangKhoa_HuuNgoc.htm"&gt;Vài nét Hữu Ngọc&lt;/a&gt;" và Bruno - Nhà ngoại giao Bỉ khâm phục thốt lên: " Tôi bàng hoàng vì chỉ nửa giờ gặp ông Hữu Ngọc , tôi hiểu văn hoá Việt Nam bằng cả bấy lâu tôi đọc bao nhiêu cuốn sách và tìm hiểu nền văn hoá của dân tộc ông. Tôi vô cùng cảm ơn ông" (sách đã dẫn). "&lt;a href="http://antgct.cand.com.vn/vi-VN/nhandam/2011/2/55034.cand"&gt;Từ những món quà xuân của Hữu Ngọc&lt;/a&gt;" là bài viết của Vân Long đăng trên báo An ninh Thế Giới giúp chúng ta một góc nhìn để đọc và suy ngẫm về quà xuân và thú chơi văn hoá. (HK)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;Từ những món quà xuân của Hữu Ngọc&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Vân Long&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mỗi khi xuân về, tết đến, chúng ta hay nghĩ đến những người thân nơi xa, thường chọn một bưu thiếp ưng ý, viết lời chúc thân ái, nồng nhiệt, tính ngày gửi để bạn nhận được đúng dịp tết. Riêng nhà văn hóa Hữu Ngọc, năm nào tôi cũng nhận được một tặng phẩm độc đáo do cụ nghĩ ra, thường bao hàm một ý nghĩa nhân sinh, văn hóa nào đó. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng phải nói thêm về căn cốt Thăng Long - Hà Nội của cụ Hữu Ngọc. Quê gốc của cụ ở xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Nhưng ông nội của cụ đã rời Kinh Bắc đến sinh sống tại phố Hàng Gai thuộc phường Cổ Vũ, đã từng làm tiên chỉ phường này! Do vậy, Hữu Ngọc được sinh ra và lớn lên ở đây, một phố cổ của Hà Nội. Phố Hàng Gai có nghề truyền thống đặc biệt thanh cao. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước hết là nghề bán sách Hán Nôm, kể cả bán buôn cho các tỉnh. Thợ khắc mộc bản in sách Hán Nôm người làng Liễu Chàng, Hải Dương đều trọ quanh đây (phố Tô Tịch hay phố Hàng Mành). Hồi còn thi Nho học, các sĩ tử hay lượn quanh các cửa hàng sách mua giấy bút, còn là cớ để ngắm các cô bán hàng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con gái Hàng Gai nổi tiếng nết na, có học và thanh lịch. Họ thường thuộc các gia đình quan lại về hưu hoặc nhà nho bất đắc chí. Khi chuyển sang học chữ Quốc ngữ, từ in khắc gỗ sang in máy, Hàng Gai lại thành cái nôi của nhiều tờ báo: Hữu Thanh, Khai Hóa, Khoa học, nhất là báo Đông Pháp là báo có rất nhiều độc giả. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cụ thân sinh của Hữu Ngọc bỏ Nho chuyển sang Tây học, làm thầy ký Sở Máy đèn. Vậy là đã ba đời gia đình cụ lập nghiệp ở Thăng Long - Hà Nội (tam đại thành tổ). Cụ lại được sinh ra, hít thở không gian văn hóa từ cổ đến kim của khu trung tâm Hà Nội này. Phải chăng cụ đã hấp thu nền văn hóa Thăng Long ngay từ lúc sơ sinh, trong mỗi tế bào? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trở lại với những món quà xuân cụ Hữu Ngọc tự chế tác ra để tặng bạn bè. Tôi chỉ đơn cử ba cái tết vừa qua: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/-qnuafioS6Qc/TVO4agJFJ6I/AAAAAAAAICQ/pu7nWYrSRU8/s1600/Duyen+Huu+Ngoc.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" h5="true" src="http://4.bp.blogspot.com/-qnuafioS6Qc/TVO4agJFJ6I/AAAAAAAAICQ/pu7nWYrSRU8/s1600/Duyen+Huu+Ngoc.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;strong&gt;Tết Đinh Hợi (2007),&lt;/strong&gt; cụ viết chữ Duyên (chữ Hán) vào lòng đĩa, có phác họa một cụm đào, rồi thuê thợ gốm nung vài chục chiếc đĩa (có móc gắn phía sau để treo tường) men sứ trắng, chữ xanh, hoa màu phớt đào làm quà xuân tặng bạn. Đó là ngụ ý chúc bạn năm tới sẽ gặp một cơ duyên nào đó, mà đôi khi nhờ nó, có thể tạo bước ngoặt, hoặc một thăng tiến, thăng hoa trong sự nghiệp, trong sáng tạo. &lt;br /&gt;Chữ Duyên của cụ Ngọc nhắc ta nhớ đến luận điểm độc đáo của cụ: Cái ngẫu nhiên chi phối 70% cuộc đời ta, cụ không tin bói toán, tử vi mà tin cái ngẫu nhiên khoa học. Vậy là tài sức, ý chí cá nhân (nhân định) chỉ chiếm 30% thôi sao? Trong khi ai cũng nghĩ một người như cụ, phải đến 70% là do ý chí, do rèn luyện cả đời mà làm nên! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thoạt nghĩ thì như vậy, nhưng khi xem lại cuốn phim cuộc đời nhà văn hóa nổi tiếng lão thực này, mới thấy: Ước mơ hồi trẻ (lúc đang là học sinh Trường Bưởi, 18 tuổi, thời Pháp thuộc) của Hữu Ngọc là: dạy học ở một tỉnh miền núi, dựng một căn nhà nho nhỏ bên bờ suối, rồi có thể yêu và lấy một cô gái miền núi…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hóa ra cái lãng mạn "Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối " không chỉ là riêng Suối Mơ của Văn Cao, mà là "bệnh thời đại" của một số con nhà nền nếp, có học, chán ghét chốn phồn hoa, ô trọc, muốn giữ được thanh cao mà chưa tìm ra lối thoát. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và cơ duyên lớn của đời họ là gặp được Cách mạng tháng Tám giũ bỏ ách thống trị thực dân, để Hữu Ngọc đang từ người thích sống cô đơn yên ả trở thành người cả đời đi bắc các nhịp cầu văn hóa, làm bạn với cả thế giới (cụ từng làm Giám đốc NXB Thế giới, xuất nhập khẩu các nền văn hóa qua hoạt động dịch, biên soạn, và xuất bản). Luận điểm về chữ Duyên ít ra là đúng hoàn toàn với cuộc đời cụ khi đã gặp "cơ duyên" lớn: Cách mạng!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Quà xuân năm Mậu Tý (2008),&lt;/strong&gt; cụ đưa in bài thơ (chữ Hán) "Xuân hiểu" (Buổi sớm xuân) của Mạnh Hạo Nhiên lên góc tờ bìa rộng, gập đôi thành khổ A4. Choán cả tờ bìa rộng là bức vẽ theo lối Quốc họa Trung Quốc hình một nhành mai có đôi chim đang nép vào nhau. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường (thế kỷ VIII) do Tương Như dịch, cụ chuyển ngữ sang tiếng Anh và tiếng Pháp, in bản phụ lục kèm theo, còn bức tranh - thơ thì để nguyên chữ Hán, hẳn là bút tích một danh nho nào, nên cũng trở thành tiết họa khá hài hòa của bức tranh-thơ!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xuân hiểu &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xuân miên bất giác hiểu&lt;br /&gt;Xứ xứ văn đề điểu&lt;br /&gt;Dạ lai phong vũ thanh&lt;br /&gt;Hoa lạc tri đa thiểu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Mạnh Hạo Nhiên)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Tương Như dịch:&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Giấc xuân, sáng chẳng biết&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Khắp nơi chim ríu rít&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Đêm nghe tiếng gió mưa&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Hoa rụng nhiều hay ít.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cụ Hữu Ngọc bình rằng bài thơ có cái tứ hiện đại về nhân sinh, có tâm lý thầm kín của cái tôi, của dòng thời gian và dòng tâm không ngừng chảy, dĩ vãng đan xen hiện tại, cái vui lại đượm nỗi buồn của phận người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Tết năm 2009&lt;/strong&gt;, cụ lại có quà mới, gặp ai đáng tặng là cụ rút ngay bút ra đề tặng vào những ngày đầu xuân, như quà mừng tuổi. Đó là một tấm bìa lớn gấp đôi thành 4 trang khổ A4. Bìa 1 là chân dung nhà "lữ hành" Hữu Ngọc khổ nhỏ, dưới in sẵn đôi chữ Mừng Xuân và khoảng trống để đề tặng, dưới cùng là dấu triện son riêng của cụ và chữ ký. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gọi cụ là "lữ hành", bởi cụ hay đi, chân dung lại chụp lúc cụ đang đi, như hằng ngày cụ vẫn tạo điều kiện để đi bộ được nhiều nhất, túi dết khoác qua vai, chiếc mũ vải mềm quen thuộc. Nền ảnh ló ra đuôi chiếc ôtô ca và hàng rào cây xanh, tỏ ra cụ đang băng qua đại lộ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chú thích bức tranh nằm ở bìa 2: Ngày xửa, ngày xưa… (Tranh Tết Phạm Tăng - Paris 1973, tha hương vẽ tưởng tượng). Những bạn chưa biết Phạm Tăng, sẽ được cụ Ngọc giới thiệu khái quát: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phạm Tăng học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Yết Kiêu, đi kháng chiến ở Nam Định. Đến cải cách ruộng đất bị dính thành phần, chạy vào Sài Gòn. Ở đây, ông vẽ và viết báo tự do, chửi Ngô Đình Diệm, bị bắt giam. Sau có người quen lo lót với Trần Kim Tuyến, trùm mật vụ, được thả nhưng buộc phải tránh mặt tại Sài Gòn. Ông sang Italia, lần lượt học hết các bộ môn của nghệ thuật tạo hình, trở thành họa sĩ nổi tiếng ở nước ngoài, được giải nhất hội họa của UNESCO.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bìa 3: Ảnh chụp bức tranh sơn dầu của Phạm Tăng, cảnh một đôi vợ chồng nông dân trong giờ nghỉ. Chồng mặc quần cộc, ngả lưng vào con trâu đang nằm lim dim thụ hưởng phút thư giãn, ông chủ của nó cũng đang lim dim rít điếu thuốc lào, vồng ngực và bắp tay cuồn cuộn sinh lực. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cô vợ chỉ mặc chiếc yếm trắng, quần xắn trễ nải trên đầu gối, thắt lưng màu hoa đào, đang cười mãn nguyện ngắm chồng và đứa con trai ngồi trên lưng trâu, hớn hở khoe con cào cào… Đối với cô vợ nông dân, trước mắt cô là toàn bộ cơ nghiệp (con trâu chỉ là… đầu cơ nghiệp!), là hiện tại bình yên, là tương lai đang lớn dần… &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bìa 4 là bút tích và hai câu chữ Hán của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, nhà văn hóa nổi tiếng của ta thế kỷ XX: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thỉnh nhĩ tu du vong thế sự&lt;br /&gt;Tùng lâm tuyết lạc tự mai hoa. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;(Xin bạn phút giây quên thế sự&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Rừng thông tuyết rụng tựa hoa mai). &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếp đó là bản tiếng Pháp, tiếng Anh do Hữu Ngọc chuyển ngữ, bởi số bạn cụ gặp hằng ngày là nhà báo, nhà văn nước ngoài nhiều hơn bạn Việt, bởi cụ làm báo tiếng Pháp, tiếng Anh, làm Chủ tịch cho hai quỹ văn hóa nước ngoài hoạt động ở Việt Nam. Đôi câu thơ này cũng có sự tích của nó: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hồi Nguyễn Khắc Viện hoạt động và chữa bệnh ở Pháp, sau 6, 7 lần bị mổ, bị cắt đến phổi và mấy cái xương sườn, ông vẫn hoạt động trong phong trào yêu nước của người Việt ở Pháp và nghiên cứu văn hóa. Một giáo sư Trung Quốc tìm đến tham vấn ông. Ông này có nhiều mối lo về thế sự. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện muốn giải tỏa những ức chế cho bạn, trong khi đưa bạn đi dạo rừng thông, đã ứng khẩu hai câu thơ trên. Cụ Hữu Ngọc thường nói: "Đó là thơ chống stress của ông Viện!". Quả nhiên là với ý chí rèn luyện sức khỏe (phương pháp luyện thở Nguyễn Khắc Viện) và tinh thần lạc quan của ông, Nguyễn Khắc Viện đã làm giới y học Pháp, Việt phải kinh ngạc về tuổi thọ, ông sống lâu không thua gì một người khỏe mạnh!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không phải ai trong chúng ta muốn là có thể học được phong cách giao lưu đầy tinh thần nhân văn, nhân ái của những người… xưa nay quá hiếm như hai nhà văn hóa Hữu Ngọc và Nguyễn Khắc Viện. Nhưng ta vẫn cần biết để tránh những hành động, phong cách trái ngược với nét đẹp văn hóa của cha ông trong dịp đầu xuân, tránh làm tổn hại những ngày xuân trong sáng của bạn!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 22/12/2010 vừa qua là sinh nhật thứ 92 của cụ Hữu Ngọc, người có duyên với bộ đội, từng làm Trưởng ban Giáo dục tù hàng binh Âu - Phi hồi kháng chiến chống Pháp. Làm việc này, cụ Hữu Ngọc đã ứng dụng sách lược "tâm công" của bậc tiền nhân Nguyễn Trãi, tiến công bằng tâm lý, hình như chưa một nước nào làm giống thế. Có thể làm một luận án tiến sĩ về vấn đề này! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cụ Ngọc nghĩ thế, nhưng cụ không làm, cụ bận làm mấy việc lớn hơn: Đến năm nay, cụ đã hoàn thành 3 cuốn sách cơ bản và hết sức đa dạng về nền văn hóa Việt bằng 3 thứ tiếng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Wandering through Vietnamese culture (Lang thang trong văn hóa Việt Nam).&lt;br /&gt;- À la découverte de la culture Vietnamienne (Khám phá văn hóa Việt Nam).&lt;br /&gt;- Lãng du trong văn hóa Việt Nam (NXB Thế giới)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mỗi cuốn đều trên 1.000 trang, có thể nói đây là một "tập đại thành" về văn hóa Việt của cụ Hữu Ngọc, người mà sự nghiệp cả đời là quảng bá văn hóa Việt Nam cho thế giới. Một mặt khác, bè bạn các nước lại cho cụ là người nối nhịp cầu cho các nền văn hóa thế giới. Nhờ những cuốn biên soạn công phu của cụ mà người đọc hiểu thêm các nền văn hóa Pháp, Nhật, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch… Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật thứ 92 và dịp mừng năm mới, chúng ta chúc cụ gặp một "cơ duyên" mới trong năm 2011.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;&lt;strong&gt;Vài nét Hữu Ngọc&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trần Đăng Khoa&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiều lúc ngắm Hữu Ngọc, không hiểu sao, tôi cứ có cái cảm giác rợn ngợp như đang đứng trước một con khổng long vừa hiện hình người. Hữu Ngọc quả là một con khổng long kỳ vĩ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông sinh năm 1918. Khi đó, bố mẹ tôi còn chưa ra đời. Nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng, thuộc lứa tuổi đàn em của ông, giờ cũng đã thành người ở cõi thương nhớ. Vậy mà Hữu Ngọc vẫn dẻo dai “sánh bước cùng thời đại”, hay nói như ngôn ngữ của ông, “cứ lang thang như một áng mây giời”. Hàng ngày, Hữu Ngọc vẫn cậm cạch cuốc bộ từ nhà riêng ở khu Vạn Bảo đến cơ quan 46 Trần Hưng Đạo. Chặng đường dài hơn chục cây số đi về. Hữu Ngọc là Chủ tịch Quỹ Văn hoá Thuỵ Điển và có thời là Chủ tịch cả Quỹ Văn hoá Đan Mạch. Chỉ tính riêng ở quỹ Thuỵ Điển mà tôi được biết, trong 5 năm hoạt động, ông đã cùng các cộng sự, tham mưu giúp Thuỵ Điển tài trợ cho hàng ngàn công trình, hạng mục, khôi phục lại nhiều di sản văn hoá quý giá mà bấy lâu chìm lấp trong cỏ dại. Tôi đã nhiều lần đi thực địa cơ sở cùng Hữu Ngọc. “Đánh đu” với Hữu Ngọc mệt lắm. Nói như Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Thị Thành, đi với bác Ngọc thì no kiến thức, nhưng đói bụng và bải hoải toàn thân. Không thể “đấu vật” với bác Ngọc được! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kể cũng lạ. Tôi không ngờ một ông cụ ngót chín mươi tuổi mà vẫn leo núi thoăn thoắt như một con sóc rừng. Hữu Ngọc dường như không có tuổi già. Ông như một bộ cốt đã hoá thạch. Thời gian dường như không thể “đánh” được vào con người trần gian này. Không biết bí quyết nào đã cho ông cụ một sức lực dẻo dai đến thế? Có lẽ một phần là chất lượng sống. Mà sống, với Hữu Ngọc, là lao động. Lao động không ngừng. Nói như Xuân Diệu: “Mắt luôn lục lọi. óc luôn kiếm tìm”. Hữu Ngọc lúc nào cũng cuồn cuộn như một dòng sông luôn chảy xiết. Tôi có cảm giác chỉ một tích tắc dừng lại, có lẽ cái cơ thể đã quánh lại như một bộ cốt sống kia sẽ tan rữa ra như cát bụi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng Hữu Ngọc không thể tan rữa. Ông luôn phát triển trong thế vận động. Là người giỏi nhiều ngoại ngữ, am tường nhiều nền văn hoá nhân loại, lại đi nhiều, đọc nhiều, Hữu Ngọc là người Việt Nam, nhưng ông cũng là công dân của cả một thế giới rộng lớn. Ông kết hợp và tận dụng được cùng một lúc cả hai “nguồn lực” đó. Đây chính là “bí kíp” giúp Hữu Ngọc hơn người. Bằng con mắt của một người thuần Việt, ông nắm bắt được những vẻ đẹp của những nền văn minh nhân loại. Và bằng con mắt của nhân loại, ông phát hiện ra được những tinh chất đặc sắc của Việt Nam mà nhiều khi người Việt ta ở trong nước lại không thể nhìn ra. Tất cả những năng lực ấy, Hữu Ngọc đều bộc lộ qua hai phương tiện: Viết và Nói bằng một tư duy rất hiện đại. Nghĩa là chữ ít, nhưng lượng thông tin lại nhiều. Đó là loại văn chương điện tín. Mỗi chữ là một ký tự thông tin. Một lối văn mộc, không son phấn, văn hoa. Ông thường loại bỏ những giao đãi rườm rà, tước hết những “phụ tùng” không cần thiết, chỉ còn lại cái cốt lõi mà không thể giản lược thêm được nữa, để chuyển tải tới bạn đọc những gì mà ông muốn bộc lộ, chia sẻ. Bởi thế, các tập sách của Hữu Ngọc thường rất dày, có cuốn đến cả ngàn trang khổ lớn, nhưng người đọc vẫn không thấy dài. Nhiều bài viết chỉ phong phanh mấy trăm chữ nhưng lượng thông tin lại nhiều hơn cả một công trình nghiên cứu nghiên cứu nhiều chữ mà ít nghĩa của một nhà văn hoá nào đó. Có lẽ cũng vì thế, Tiến sĩ Nghệ thuật Đức Gunter Giesenfeld, đã gọi ông là “bậc thầy của những bài ký ngắn”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đấy là một nhận xét khá tinh tế. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng bằng lối viết cô đọng, bàn về tính cách người Mỹ, Hữu Ngọc không cần bình luận gì cả. Ông chỉ dẫn lời Giáo sư Gari Athen, chuyên gia trường Đại học Iowa. Cứ như lời vị Giáo sư này, thì ở nhiều nước, đặc biệt là các nước Châu Á, người nói thường lựa chiều người nghe. Thích gì thì nói nấy. Với người Mỹ, như thế là bất lương, là lừa đảo, vì giá trị cao nhất là thật giả, cao hơn cả lễ phép và xã giao. Khi thương lượng để ký hợp đồng, người Mỹ không quanh co, khéo léo, mà đi thẳng vào những điều khoản cam kết. Đi đường, người Mỹ hỏi: “ Đến làng X gần nhất bao xa?” Nhiều khi để khách đi đường đỡ mệt, đỡ ngại, người kia có thể đáp: “Ồ, ngay dưới kia thôi!” Người khách Mỹ lái xe đi cả đêm, chửi rủa người chỉ đường nói dối. Nếu người Mỹ được hỏi đường, họ sẽ trả lời ngay: ”Còn xa đấy. Đến ba chục cây đấy!” Khách sẽ thất vọng, mệt mỏi, nhưng biết được sự thật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bàn về các làng quê truyền thống Việt Nam, Hữu Ngọc cho rằng, do chiến tranh, do kinh tế thị trường, lại ảnh hưởng văn hoá phương Tây, các làng truyền thống của Việt Nam, hầu hết đã ít nhiều bị “ô nhiễm” văn hoá. Có chăng, chỉ còn mỗi làng Đường Lâm. Cũng theo Hữu Ngọc, Đường Lâm có thể xem là mẫu làng truyền thống Việt Nam duy nhất còn lại khá hoàn hảo, ít bị ô nhiễm nhất. Nhà nghiên cứu văn hoá Thái Lan Thainatis nói với Hữu Ngọc rằng: “Cần thiết phải cảnh báo để người dân nhận thức về di sản văn hoá của mình trước khi nó bị lãng quên và bị thời gian huỷ diệt. Đường Lâm vừa là thắng cảnh đẹp, vừa được tạo nên bởi chính bàn tay của người Việt Nam - đó chính là văn hoá văn minh của nước Việt Nam có một lịch sử lâu dài... Cảnh đẹp Hạ Long là do thiên nhiên tạo nên, không giống như Đường Lâm chỉ do con người tạo dựng”. Cảnh quan Đường Lâm dường như vẫn giữ được vẻ xưa. Nói như hoạ sĩ Phan Kế An, trước kia theo tục lệ làng, không ai được xây dựng nhà cao hơn mái đình. Tuy lệ ấy đã nhạt đi, có vài ba nhà cao tầng được xây nhưng không đáng kể. Cái chính ít xây là do dân nghèo, nông nghiệp là chính, buôn bán ít, nghề phụ chỉ có một số nghề truyền thống: Giò chả, nuôi gà, làm kẹo bột, chè lam, bánh bỏng, dệt vải và làm tương. Đưa ra mấy thông tin như thế, rồi Hữu Ngọc bình một câu sắc lẻm mà không kém phần chua xót. May quá! Không ngờ chính “cái nghèo đã cứu vớt được một di sản Văn hoá”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không ít người đã đi Côn Minh bằng đường xe lửa. Nhưng không mấy ai để ý đến con đường sắt này. Trong một bài viết rất ngắn về Lào Cai, mảnh đất biên cương nơi địa đầu tổ quốc, Hữu Ngọc cho ta biết: “Đường xe lửa Lao Cai - Côn Minh, hoàn thành năm 1910, mà Thực dân Pháp khoe là một kỳ công kỹ thuật và một thắng cảnh du lịch: “Đây là một trong những đường xe lửa ngoạn mục nhất và hiểm trở nhất Châu Á. Nó băng qua những quang cảnh đa dạng, khi thì đi sâu vào rừng nhiệt đới bao la, khi thì trèo những ngọn núi cheo leo, khi thì uốn khúc ở bên đáy vực thẳm” (Sách hướng dẫn du lịch Madrolle 1932 Paris). Nếu chỉ dừng lại như thế, đoạn văn chẳng ấn tượng gì, cũng không có giá trị gì ngoài một chi tiết thông tin về năm ra đời của con đường sắt. Nhưng Hữu Ngọc đã đẩy lên một nấc nữa: “Có điều cuốn sách này không nói là xây dựng tuyến đường này, công ty Xe lửa Vân Nam của Pháp đã làm chết năm vạn “cu li” Trung Quốc và Việt Nam”. Và thế là ngay lập tức, ta sẽ nhìn con đường sắt ấy bằng một con mắt khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng đề cập đến mảnh đất địa đầu Tổ quốc này, Hữu Ngọc còn bàn đến một địa danh với mấy tình tiết khá thú vị. Cũng theo lời Hữu Ngọc, thị xã Lào Cai, theo nhân dân kể lại thì địa danh Cốc Lếu cũng mang ý nghĩa bảo tồn văn hoá Việt: Cốc Lếu có nghĩa là gốc gạo. Đồn rằng theo lệnh Minh Mạng, người Việt ở đâu đều phải trồng cây gạo để đánh dấu lãnh thổ. Hoá ra thời xưa, cha ông ta đã cắm mốc lãnh thổ bằng...cây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài những trang viết, Hữu Ngọc còn có nhiều cuộc giao lưu quốc tế. Tôi cũng đã nhiều lần ngồi dự những cuộc gặp gỡ của ông. Những lúc ấy, Hữu Ngọc rất linh hoạt, khi nói tiếng Anh. Lúc chuyển tiếng Pháp, lúc lại quặt sang tiếng Đức. Ai hỏi ông bằng tiếng nước nào thì ông trả lời bằng tiếng nước đó. Hữu Ngọc có khả năng thôi miên người nghe bằng khối lượng kiến thức khá uyên bác của mình. Chúng ta hãy nghe chính những khán giả của ông bộc lộ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;“Xin vô cùng đa tạ bài nói tuyệt vời của ông Hữu Ngọc ngày hôm qua ở Trung tâm văn hoá Nhật Hawii. Tất cả chúng tôi đều bị cuốn hút nghe ông kể về dĩ vãng và hiện tại ở Việt Nam” (Paul Rehob Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Mỹ ở bang Hawaii - Mỹ)&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;“Bài thuyêt trình của ông Hữu Ngọc thực là hoàn hảo. Có một thành viên trẻ của đoàn chúng tôi còn bảo phần của ông là điểm hay nhât của cả chương trình nói chung. Bản thân tôi thấy ông Hữu Ngọc sử dụng kỹ năng sư phạm hiện đại rất điêu luyện cho vốn hiểu biết sâu sắc của mình. Tôi ước ao giá được nghe bản thuyết trình này sớm hơn, khi tôi bắt đầu công tác ở Hà Nội. Một bài thuyết trình thật sáng sủa”&lt;/em&gt; (Bjorn Lasson, Phụ trách đoàn 30 chuyên gia và nhà doanh nghiệp Thuỵ Điển trong chuyến thăm Việt Nam)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;“Đối với nhà trí thức Việt Nam ưu tú này - Ông Hữu Ngọc – ngôn ngữ của chúng ta, di sản nghệ thuật của chúng ta, toàn thể nền văn hoá của chúng ta, là bộ phận của nền văn hoá riêng của ông, bên cạnh nền văn hoá dân tộc, gắn chặt nhau và cùng toả sáng” (Charles Foruniau – Tiến sĩ sử học Pháp- Hội trưởng Hội Pháp Việt hữu nghị)&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;“Ông Hữu Ngọc quả là một người phi thường - điểm nổi bật nhất ở Hội nghị là nghe ông Hữu Ngọc nói chuyện”&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;“Hay đến sửng sốt”&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;“Hữu Ngọc gây ấn tượng mạnh trong tôi. Rát khiêm tốn! Rất thông minh! Rất khoan dung!”&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;“Tôi bàng hoàng vì chỉ nửa giờ gặp ông Hữu Ngọc, tôi hiểu văn hoá Việt Nam bằng cả bấy lâu tôi đọc bao nhiêu cuốn sách và tìm hiểu nền văn hoá của dân tộc ông. Tôi vô cùng cảm ơn ông”&lt;/em&gt; (Bruno- Nhà ngoại giao Bỉ)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ta có thể còn gặp rất nhiều những tiếng reo vui như thế của bạn bè quốc tế trong các trang báo chí nước ngoài. Tôi cũng muốn nói thêm một điều gì đó về ông. Nhưng rồi tôi lại im lặng. Khẳng định điều gì về ông bây giờ, dường như là ...quá sớm. Bởi Hữu Ngọc đang sung sức. Ông vẫn đang đi. Trước mặt tôi vẫn thấp thoáng tấm lưng ông. Tấm lưng lầm lụi trong gió bụi...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hà Nội 25-8-2006&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TĐK&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6386160990305421427-749700507807339247?l=danhnhanviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/feeds/749700507807339247/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6386160990305421427&amp;postID=749700507807339247' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/749700507807339247'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/749700507807339247'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/2011/02/oc-va-suy-ngam-huu-ngoc.html' title='Quà xuân và thú chơi văn hoá'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/-N4JgPeN0kzA/TVO3tvBt93I/AAAAAAAAICM/OkNCFtBXR6A/s72-c/Huu+Ngoc.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6386160990305421427.post-8916484244020307187</id><published>2011-01-23T23:49:00.000+07:00</published><updated>2011-09-25T09:14:46.108+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Đường sống Tonstoi - Nguyên Ngọc giới thiệu'/><title type='text'>Đường sống Tonstoi - Nguyên Ngọc giới thiệu</title><content type='html'>TT - Đường sống - văn thư nghị luận chọn lọc của Lev Tolstoi do Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành - cuốn sách “khổng lồ” theo nhiều nghĩa, dày đến 1.180 trang, là một cuốn sách mà “ai cũng nên đọc và trí thức bắt buộc phải đọc” - nhà văn Nguyên Ngọc nhận định.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/TTxFwyU2_lI/AAAAAAAAH-U/cMh8BsKv5kE/s1600/Nguyen+Ngoc.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="178" s5="true" src="http://3.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/TTxFwyU2_lI/AAAAAAAAH-U/cMh8BsKv5kE/s320/Nguyen+Ngoc.jpg" width="320" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Nhà văn Nguyên Ngọc nói về Tolstoi và tác phẩm Đường sống: “Càng đọc càng thấy ông quá lớn so với những gì ta đã biết” - Ảnh: Vy An&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông nói: “Chúng ta ai cũng biết đến và khâm phục Tolstoi với tư cách một văn hào vĩ đại, nhưng ít ai biết ông còn là một nhà tư tưởng vĩ đại không kém, thậm chí hơn thế. Không chỉ ở Việt Nam, trên thế giới mà ngay ở Nga, đã một thời gian dài người ta cố tình đề cao hết mức nhà văn Tolstoi để hạ thấp hoặc chính xác là lờ đi một Tolstoi, nhà tư tưởng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự ra mắt của cuốn Đường sống - văn thư nghị luận chọn lọc của Tolstoi bằng tiếng Việt bù đắp phần nào sự thiếu hụt trong nhận thức và tri thức của chúng ta lâu nay. Đường sống mở ra cho chúng ta một góc nhìn khác, một thế giới khác của Tolstoi - nhà triết học, nhà tư tưởng, nhà đạo đức... Càng đọc càng thấy ông quá lớn so với những gì ta đã biết”.&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/TTxF5nX_luI/AAAAAAAAH-Y/7fiXkul7Szo/s1600/Lev+Tonstoy.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="320" s5="true" src="http://4.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/TTxF5nX_luI/AAAAAAAAH-Y/7fiXkul7Szo/s320/Lev+Tonstoy.jpg" width="250" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;* Điều gì trong tư tưởng của Tolstoi thể hiện trong Đường sống mà ông thấy nổi bật nhất và có thể chia sẻ được ngay, thưa nhà văn?&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Những dấu ấn tư tưởng nổi bật nhất của Tolstoi trong những tiểu luận và thư từ này là sự gắn kết những tinh hoa của trí thức Nga với những tinh túy của nhân dân lao động Nga - nhất là nông dân. Tolstoi yêu người nông dân Nga và nhận rõ những giá trị của họ, nhưng không thần thánh hóa nông dân, coi đó là những giá trị tuyệt đối và phủ nhận trí thức - thành phần xuất thân của chính mình - như các nhà cách mạng dân túy cùng thời và sau này. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có thể thấy tinh thần này xuyên suốt trong các tác phẩm của Tolstoi, từ văn học đến triết học, dễ thấy nhất qua ngòi bút của ông đặc tả vẻ đẹp Nga (Natasha Rostova trong Chiến tranh và hòa bình). Nhưng ông kiên quyết không biến cái tinh thần Nga đó thành “chủ nghĩa dân tộc” để cho các nhà cầm quyền lợi dụng. Ông đã nhấn mạnh điều đó nhiều lần trong các tiểu luận.&lt;br /&gt;Một điểm nổi bật khác mà chúng ta có thể đọc được từ Đường sống, đó là tầm vóc của Tolstoi, những kiến giải sâu sắc của ông về giáo dục, tôn giáo, triết học, chính trị, xã hội, kinh tế... Nga. Rất thú vị là khi đọc tiểu thuyết của ông, có những điều ta chưa nhìn rõ mà chỉ cảm nhận thì đọc văn nghị luận của ông, ta bỗng thấy được soi sáng và lý giải thấu đáo. Đọc Tín ngưỡng của tôi, Tôn giáo là gì và bản chất của nó ở đâu?..., ta sẽ thấy những diễn biến tâm lý của “cha Xerghi” dưới một ánh sáng nhận thức khác. Hay khi đọc Bàn về giáo dục, về chủ nghĩa xã hội sẽ thấy những tư tưởng của ông thật hiện đại, nó trùng hợp với ý tưởng cách mạng giáo dục của những nhà giáo dục tiên tiến như John Deway (tác giả cuốn Giáo dục và dân chủ - NXB Tri Thức đã xuất bản), nhưng ông đi trước gần nửa thế kỷ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;* Vấn đề đặt ra là sách quá dày, quá nặng cả về trọng lượng và nội dung, chỉ nhìn mà chưa cầm lên đã thấy e ngại, làm sao có thể “phổ cập” nó như mong muốn của ông?&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Đầu tiên, tôi và tất cả độc giả của cuốn sách muốn chuyển lời cảm ơn đến nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư - người nghiên cứu, tuyển chọn và chú giải của bộ sách, cùng toàn thể nhóm dịch giả Nguyễn Thị Kim Hiền, Vũ Thế Khôi, Từ Thị Loan, Lã Nguyên. Họ đã làm việc rất cực nhọc và rất hiệu quả để cho ra đời một bản dịch theo tôi là rất tốt, đọc rất hấp dẫn và có chất Tolstoi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thứ hai, tôi muốn cảm ơn NXB Tri Thức vì đã quyết tâm xuất bản một cuốn sách thuần túy phổ biến kiến thức và rất khó tiêu thụ như thế này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thứ ba, tôi muốn người đọc hãy “bình tĩnh”, Tolstoi - nhà tư tưởng không hề khó đọc hơn Tolstoi - nhà văn. Hơn nữa, đấy là tập tiểu luận - thư từ, bạn có thể từ từ đọc những gì bạn thích trước, quan tâm đến vấn đề nào thì đọc vấn đề đó trước, vì thời lượng của mỗi tiểu luận đều không quá dài. Và khi đó, bạn sẽ thấy tất cả vấn đề mà Tolstoi đặt ra từ hơn một thế kỷ trước đều không xa lạ với chúng ta, từ tự do giáo dục đến quay trở về với nông nghiệp sinh thái..., không phải ngẫu nhiên mà nhiều học giả lớn của thế giới đều nói: “Nhân loại sẽ còn quay trở lại với Tolstoi vì những gì ông đã tìm kiếm, trăn trở và tiên liệu”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;THU HÀ thực hiện&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/421517/Nha-van-Nguyen-Ngoc-Nhan-loai-se-con-quay-lai-voi-Tolstoi.html"&gt;http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/421517/Nha-van-Nguyen-Ngoc-Nhan-loai-se-con-quay-lai-voi-Tolstoi.html&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6386160990305421427-8916484244020307187?l=danhnhanviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/feeds/8916484244020307187/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6386160990305421427&amp;postID=8916484244020307187' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/8916484244020307187'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/8916484244020307187'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/2011/01/nha-van-nguyen-ngoc-nhan-loai-se-con.html' title='Đường sống Tonstoi - Nguyên Ngọc giới thiệu'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/TTxFwyU2_lI/AAAAAAAAH-U/cMh8BsKv5kE/s72-c/Nguyen+Ngoc.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6386160990305421427.post-4194123645856459751</id><published>2010-07-15T17:06:00.002+07:00</published><updated>2010-07-15T17:14:35.106+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Tạ Quang Bửu'/><title type='text'>Tạ Quang Bửu một trí tuệ quảng bác, người chân tình chăm sóc các tài năng khoa học</title><content type='html'>&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/TD7dQU5qpLI/AAAAAAAAHfo/uxfg0Tx6W9k/s1600/Ta+Quang+Buu.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" rw="true" src="http://4.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/TD7dQU5qpLI/AAAAAAAAHfo/uxfg0Tx6W9k/s320/Ta+Quang+Buu.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;DANH NHAN VIỆT. Hàm Châu .Báo Văn hóa Nghệ An trực tuyến&amp;nbsp;đăng bài "&lt;a href="http://www.vanhoanghean.com.vn/tap-chi/nguoi-xu-nghe/796-ta-quang-buu-mot-tri-tue-quang-bac-nguoi-chan-tinh-cham-soc-cac-tai-nang-khoa-hoc-.html"&gt;Tạ Quang Bửu một trí tuệ quảng bác , người chân tính chăm sóc các tài năng khoa họ&lt;/a&gt;c".&amp;nbsp;Ngay trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, ông đã mời một số nhà toán học Pháp được tặng Huy chương Fields (được coi như Giải thưởng Nobel trong toán học) như Laurent Schwartz, Alexandre Grothendieck sang thăm Việt Nam, đọc bài giảng về các vấn đề toán học hiện đại nhất, để cập nhật kiến thức cho đội ngũ nghiên cứu toán học nước ta. Ông là người đề xướng và tổ chức thực hiện việc thi tuyển sinh đại học và kiểm tra kiến thức nghiên cứu sinh một cách công bằng, minh bạch. Ông cũng là một trong những người chủ trương mở các lớp phổ thông chuyên toán ở nước ta vào năm 1965, từ đó đào tạo được mấy thế hệ các nhà khoa học tài năng cho đất nước. Ông mạnh dạn đưa học sinh ta đi dự các Olympic Toán Quốc tế ngay từ mùa hè năm 1974, khi nửa nước còn chiến tranh giải phóng. Nhiều học sinh chuyên toán thời ấy, về sau, đã trở thành những nhà toán học, nhà vật lý, nhà cơ học hay nhà quản lý khoa học và giáo dục có tiếng...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Bộ óc bách khoa&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có người cho rằng “Tạ Quang Bửu là một bộ óc Lê Quý Đôn thời nay”. Nhận định ấy cần có thêm thời gian để bình tĩnh kiểm chứng. Tuy nhiên, có thể nói ngay rằng đó không phải là điều thiếu căn cứ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tạ Quang Bửu sinh ngày 23-7-1910 tại làng Hoành Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà nho yêu nước. Cha là cụ cử nhân nho học Tạ Quang Diễm. Mẹ là bà Nguyễn Thị Đào (tức nữ sĩ Sầm Phố) có nhiều bài thơ vịnh cảnh nghèo, gửi gắm chút tình non nước in trên các báo Tiếng Dân, Phụ Nữ Thời Đàm...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1917, ở phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, mở kỳ thi cho những học sinh bảy tuổi, thi cả chữ Hán, Việt văn và toán, do ông nghè Đinh Văn Chấp chấm. Cậu bé Bửu đỗ cao và từ đấy nổi tiếng học giỏi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1929, là học sinh Trường Bưởi (Hà Nội), Tạ Quang Bửu đỗ đầu kỳ thi tú tài bản xứ (chương trình học và thi rất nặng). Sau đó, ông thi cùng học sinh các trường Tây, đỗ đầu tú tài Tây ban toán, và đỗ hạng ưu tú tài Tây ban triết. Toán học và triết học là hai môn được ông yêu thích ngay từ khi còn trẻ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đỗ cao nên ông nhận được học bổng của Hội Như Tây du học (một hội khuyến học của Nam triều) để sang Pháp học tiếp. Trước đó, vào năm 1928, các ông Nguyễn Xiển và Hoàng Xuân Hãn cũng đã nhận được học bổng của Hội này để đi du học.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến Paris, ngành học đầu tiên ông Bửu chọn là toán học. Các giáo sư Pháp rất quý ông về sự nhạy cảm toán học và óc suy luận thông minh, sắc bén. Sau này, GS Lê Văn Thiêm kể lại: Trong kỳ thi lấy một chứng chỉ rất khó, hơn 100 người dự thi, chỉ có 4 người đỗ trong đó có ông Bửu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi theo học chương trình cử nhân khoa học tại Đại học Sorbonne (Paris), ông Bửu xuống Bordeaux để học thêm thầy Trousset về cơ học. Ông đọc kỹ cuốn Cơ học của Rauth và làm hầu hết các bài tập trong đó. Rồi ông dự thi và nhận được học bổng của Đại học Oxford bên Anh. Tại đây ông có cơ hội trau dồi tiếng Anh, nhất là về mặt ngữ âm và hội thoại, cũng như học cơ học lượng tử qua các xêmina. Năm 1938, ông lại có dịp trở lại nước Anh dự Trại Tráng sĩ của Tổ chức Hướng đạo Thế giới, thi lấy bằng trại trưởng. Một mẩu chuyện vui: Ông phải thi thuyết giáo về kinh Phúc Âm tại một nhà thờ Tin lành ở Anh, hấp dẫn đến mức có người tưởng ông là... mục sư! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trở về nước, ông từ chối làm quan, chỉ nhận dạy toán và tiếng Anh tại Trường Thiên Hựu, một trường trung học tư ở Huế. Ông nhận thấy khó có thể hiểu sâu văn hóa Việt Nam và phương Đông nếu không học kỹ chữ Hán. Ông lên Bến Ngự xin thụ giáo cụ Phan Bội Châu, miệt mài nghiền ngẫm loại văn tự khó bậc nhất thế giới này. Ông dần tự đọc hiểu Luận Ngữ của Khổng Tử, Đạo Đức Kinh của Lão Tử, Nam Hoa Kinh của Trang Tử và nhiều tác phẩm kinh điển khác của triết học phương Đông trong nguyên văn Hán ngữ. Vốn kiến văn uyên bác ấy giúp ông gặt hái nhiều thành quả về sau... &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay trong mấy năm đầu chống Pháp vô cùng khó khăn, ông liên tiếp cho ra mắt bạn đọc nhiều cuốn sách như: Thống kê thường thức, Vật lý cương yếu, Nguyên tử - Hạt nhân - Vũ trụ tuyến, và Sống. Mới đây, Nhà xuất bản Giáo Dục đã in lạicác tác phẩm ấy. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc năm 1948 ở Việt Bắc, ông Nguyễn Xiển nói: “Trong thời kỳ kháng chiến này, ông Bửu là nhà khoa học viết được nhiều nhất, do vậy có thể ảnh hưởng nhiều nhất đến các thế hệ đương thời.” Rồi ông Xiển dự báo: “Với những người mở đường như ông Bửu, ông Thiêm, chắc chắn nước ta sẽ có hàng trăm nhà toán học có tài không kém nước khác.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS Lê Văn Thiêm có lần kể lại: “Năm 1951, đến thăm anh Bửu tại một ngôi nhà lá dùng làm trụ sở của cơ quan Bộ Quốc phòng giữa rừng Tuyên Quang, tôi kinh ngạc và thú vị khi thấy, tuy chìm ngập trong công việc, anh vẫn dành thời gian đọc các sách báo toán nổi tiếng qua tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức...”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS Bửu có thói quen đọc sách ở mọi nơi, mọi lúc, đọc rất nhanh, nhớ rất lâu. Có lần qua châu Sơn Dương, ngồi trên lưng ngựa, mải mê đọc Nicolas Bourbaki, ông ngã tòm xuống suối! Về sau, ông viết cuốn Về cấu trúc của N. Bourbaki (1960). Và, cuốn sách giới thiệu khoa học hiện đại cuối cùng của GS Bửu là cuốn Hạt cơ bản in sau khi ông qua đời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo GS Thiêm thì “năng lực tự học của anh Bửu gần như là một thiên huyền thoại!” &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà ngôn ngữ học toán học người Mỹ Noam Chomsky, người được tạp chí Mỹ Newsweek (Tuần Tin tức) đánh giá là “một trong những nhà bác học lớn nhất thế kỷ 20”, nhiều lần sang thăm Việt Nam và trò chuyện với GS Tạ Quang Bửu. Trở về Mỹ, N. Chomsky viết bằng tiếng Pháp: “Monsieur Ta Quang Buu est un homme d’une intelligence formidable!” (Ông Tạ Quang Bửu là một người thông minh khủng khiếp!).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS Bửu còn là người tinh thông nhiều ngoại ngữ. Ông Nguyễn Xuân Huy cho biết: Hồi Chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội ta nhận được pháo phòng không của Liên Xô (cũ), kèm theo một bản hướng dẫn cách sử dụng máy ngắm bắn máy bay bằng tiếng Nga. Ông Huy không biết nhờ ai dịch, bởi vì lúc đó ở Bộ Quốc phòng chỉ có phiên dịch tiếng Trung Quốc. Nghe nói trên Bộ có ông Bửu chỉ tự học ba tháng đã đọc hiểu tiếng Nga, ông Huy liền cuốc bộ suốt một ngày một đêm lên gặp. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Anh Bửu xem lướt qua, rồi đọc một mạch tiếng Nga làm tôi phục quá! Xong, anh dịch ngay ra tiếng Pháp cho tôi đem về đọc lại thật kỹ để hướng dẫn bộ đội.” Ông Huy kể lại mẩu chuyện đó trong một bài hồi ký in gần đây. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1963, nhà toán học Ba Lan Mikusinsky gửi tặng GS Bửu một số kết quả nghiên cứu mới của mình. GS Bửu đọc thẳng tiếng Ba Lan và sau đó thuyết trình về toán tử Mikusinsky cho các giảng viên toán tại các trường đại học ở Hà Nội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn về tiếng Anh, thì trong những ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám, là Tham nghị trưởng ngoại giao (lúc đó Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao), ông Bửu giúp Bác Hồ soạn thảo các bức công hàm gửi Stalin, Truman, Atlee..., và tiếp các nhà ngoại giao Anh, Mỹ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mới đây, trong cuốn sách dày hơn 500 trang nhan đề Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam?), ông Archimedes L. A. Patti, một người Mỹ vốn là đại tá tình báo, miêu tả những con người và sự kiện ở Hà Nội vào năm 1945, trong đó có đoạn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Một vị khách đợi tôi ở biệt thự. Đó là ông Tạ Quang Bửu, một người Việt Nam ưu tú, có lẽ gần 30 tuổi. Tôi nhớ hình như đã trông thấy ông ở đâu đó nhưng không chắc lắm. Tôi và Bernique bắt tay ông. Ông tự giới thiệu là “do Bộ Nội vụ cử tới”. Ông nói tiếng Anh hoàn hảo với giọng đặc Oxford, không lơ lớ chút nào, khiến tôi sững sờ kinh ngạc...”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng ta còn nhớ Bộ trưởng Bộ Nội vụ năm 1945-1046 là đồng chí Võ Nguyên Giáp...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Người phát hiện, bồi dưỡng, nâng đỡ, cảm hoá các tài năng khoa học&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau ngày Hà Nội giải phóng (10-10-1954), với cương vị Phó Chủ nhiệm kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Khoa học Nhà nước, rồi Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, GS Tạ Quang Bửu đã hết lòng xây dựng đội ngũ các nhà toán học Việt Nam. Ngay trong những năm chiến tranh ác liệt, để cập nhật kiến thức cho đội ngũ toán học nước ta, ông đã mời nhiều nhà toán học Pháp được tặng Huy chương Fields như Laurent Schwartz hay Alexandre Grothendieck sang thăm Việt Nam, đọc bài giảng về các vấn đề toán học hiện đại nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có thể nói, GS Tạ Quang Bửu có mối quan hệ gắn bó thân thiết và có ảnh hưởng sâu đậm đến nhiều nhà khoa học, kỹ thuật có uy tín ở nước ta như: Hoàng Tuỵ, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Hiệu, Vũ Đình Cự, Phan Đình Diệu, Nguyễn Văn Đạo, Hoàng Xuân Sính, Nguyễn Đình Trí, Hoàng Hữu Đường, Phan Đức Chính, Phạm Hữu Sách, Đàm Trung Đồn, Vũ Thanh Khiết, Nguyễn Lân Dũng, Đặng Vũ Minh, Nguyễn Văn Điệp, Hà Huy Khoái, Ngô Huy Cẩn (tiến sĩ khoa học cơ học, thân phụ nhà toán học Ngô Bảo Châu), v.v. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS Nguyễn Văn Hiệu, nhà vật lý Việt Nam được tặng Giải thưởng Lenin và Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học - kỹ thuật, kể lại: “Đầu năm 1958, tại giảng đường Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, GS Tạ Quang Bửu thuyết trình về phát minh vật lý mới đoạt Giải thưởng Nobel của hai nhà bác học người Mỹ gốc Hoa là Lý Chính Đạo và Dương Chấn Ninh về sự không bảo toàn tính chẵn lẻ trong tương tác yếu. Buổi thuyết trình hôm ấy đã mang đến cho tôi một niềm hứng thú vô biên và đột ngột mặc dù, vào lúc đó, tôi chưa thật hiểu rõ nội dung phát minh nói trên. Tương tác yếu trở thành một đề tài nghiên cứu mang tính thời sự nóng hổi, hấp dẫn đến mức có nhà vật lý nước ngoài từng quả quyết: “Trái tim tôi thuộc về tương tác yếu!” Tôi cảm thấy câu nói đó không xa lạ đối với chính mình. Cho nên, ngay sau khi được cử sang làm việc tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna ở Liên Xô, tôi say mê lao vào nghiên cứu lĩnh vực nói trên và chẳng bao lâu sau, công bố 12 công trình về neutrino…”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS Ngô Việt Trung, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới thứ ba, Viện trưởng Viện Toán học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho biết: “Tôi còn nhớ đó là một buổi chiều chớm lạnh giữa thập niên 70 thế kỷ trước. Sau giờ làm việc, GS Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, sang công tác tại CHDC Đức, cho gọi tôi và vài anh em ta đang học tập, nghiên cứu tại đây đến khách sạn, nơi ông lưu trú. Lúc bấy giờ, tôi đang theo học Đại học Berlin. GS Bửu thân mật hỏi chuyện chúng tôi và, đối với riêng tôi, ông cho mượn một cuốn sách chuyên khảo thuộc chuyên ngành tôi đang nghiên cứu, rồi căn dặn nên đọc thêm những nhà toán học nào ở phương Tây, bởi vì, theo ông, trong chuyên ngành này, các công trình của các nhà toán học CHDC Đức và các nước xã hội chủ nghĩa khác chưa phải là tiên tiến nhất. Cuộc trò chuyện kéo dài đến quá nửa đêm. GS Bửu bảo chúng tôi ngủ lại tại phòng ông. Nhưng trong phòng chỉ có… một cái giường! Ông nêu ra “sáng kiến”: Tất cả ngủ ngay dưới sàn nhà bởi vì, theo ông, sàn có trải thảm len, không sợ lạnh… Tôi cảm thấy ngành khoa học và giáo dục nước ta, vào thời điểm ấy, đã có một nhà lãnh đạo tài, đức tuyệt vời. Vì vậy, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ khoa học toán học ở nước bạn, tôi vui vẻ trở về nước phục vụ, mặc dù biết rằng mình sẽ phải đương đầu với vô vàn khó khăn…”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS Tạ Quang Bửu còn cảm hoá nhiều nhà trí thức Việt kiều hướng về Tổ quốc. Ông có quan hệ thân thiết với các nhà toán học Frédéric Phạm, Lê Dũng Tráng, Bủi Trọng Liễu, v.v. Trong thiên hồi ký Chuyện gia đình và ngoài đời, GS Bùi Trọng Liễu, Đại học Paris, kể lại: “Vào khoảng năm đầu thập niên 1960, cái thời xa xăm ấy, lúc mà tâm trí đông đảo bà con Việt kiều hầu như còn dồn cả vào tình hình chính trị miền nam, và chỉ lẻ tẻ vài cá nhân tự nguyện gửi sách báo, dụng cụ khoa học về một vài cơ sở ở miền bắc, bỗng một bữa tôi nhận được một cuốn từ điển khoa học in trong nước do anh Tạ Quang Bửu gửi tặng. Sự việc thật đơn giản này gợi cho tôi câu hỏi: Đây là đường lối “chiêu hiền đãi sĩ” của cách mạng Việt Nam mà anh là một trong những người góp phần vạch ra và thực hiện, hay là một dấu hiệu trong nước không từ chối sự đóng góp “tri thức” của kiều bào nước ngoài? Chắc là cả hai. Quan hệ giữa tôi và anh bắt đầu từ ngày đó... Rồi chiến tranh lan rộng ra miền bắc... &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mùa xuân 1969, điều tôi mong mỏi chờ đợi đã đến. Anh T., vị tham tán văn hoá đầu tiên tại Cơ quan Tổng Đaị diện nước ta tại Pháp tới Paris, mang theo lời gợi ý của anh Bửu mời tôi về nước làm việc một tháng, thí điểm cho việc Việt kiều về công tác ngắn hạn (nhưng hè 1970, tôi mới sắp xếp về nước được). Gặp anh, tôi cảm thấy mình cùng trên một “làn sóng” với anh: “Thể xác không cần liên tục tại chỗ - anh nói - vẫn có thể đóng góp được. Một tập thể những Việt kiều có chuyên môn cao, có nghề nghiệp vững chắc, có địa vị xã hội ổn định, là một cửa sổ của ta mở sang phía các nước phương Tây...”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà trí thức Việt kiều tiêu biểu ấy đã hướng về đất nước do “sức hút” của bậc “đại sĩ phu hiện đại” Tạ Quang Bửu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông cũng là người đề xướng việc mở các lớp phổ thông chuyên toán đầu tiên ở nước ta vào năm 1965, từ đó đào tạo được mấy thế hệ các nhà toán học tài năng cho đất nước. Ông mạnh dạn chủ trương đưa học sinh ta tham gia các Olympic Toán Quốc tế ngay từ mùa hè năm 1974 khi đất nước còn chưa thống nhất. Nhiều học sinh chuyên toán thời ấy, về sau, đã trở thành những nhà toán học, nhà vật lý, nhà cơ học có tiếng như: Ngô Việt Trung, Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn, Vũ Hà Văn, Lê Tự Quốc Thắng, Phạm Hữu Tiệp, Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Đông Anh, Phạm Lê Kiên, Vũ Kim Tuấn, Nguyễn Hồng Thái, Lê Hồng Vân, Nguyễn Thị Thiều Hoa, Đinh Tiến Cường, Ngô Đắc Tuấn, Lê Hùng Việt Bảo; v.v. Một số học sinh chuyên toán khác, về sau, giữ trọng trách quản lý trong khoa học và giáo dục như: Đào Trọng Thi, Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Giám độc Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Văn Nhung, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Lê Tuấn Hoa, Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam; Nguyễn Đình Công, Phó Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam; v.v.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS Tạ Quang Bửu đột ngột ngừng làm việc vào đêm 14-8-1986 do rồi loạn tuần hoàn não. Một tuần sau, trưa 21-8, ông qua đời để lại những bài viết dở dang, những bản thảo chưa in.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiến lược con người, đó là nhan đề bài báo cuối cùng của GS Tạ Quang Bửu in trên tạp chí Tổ Quốc. Ông định chỉnh lý và bổ sung bài báo này thành một kiến nghị trình Đại hội VI của Đảng CS Việt Nam, nhưng chưa kịp làm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đẹp một cuộc đời&lt;br /&gt;Đẹp một con người&lt;br /&gt;Sao anh quá vội?&lt;br /&gt;Khóc anh nghẹn lời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Chiến lược con người”&lt;br /&gt;Anh vừa phác thảo &lt;br /&gt;Mực còn chưa ráo&lt;br /&gt;Chữ còn đương tươi&lt;br /&gt;Tim bỗng ngừng đập&lt;br /&gt;Anh đã đi rồi…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà thơ đất Quảng, Khương Hữu Dụng, năm ấy 79 tuổi, bạn cùng lớp với GS Tạ Quang Bửu và GS Phan Thanh trong bốn năm theo học Trường Quốc học Huế ((1922-1926), ghi vội mấy vần thơ thương tiếc người bạn cố tri yêu quý…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại Paris, thủ đô nước Pháp, Viện sĩ Laurent Schwartz, nhà toàn học lỗi lạc được tặng Huy chương Fields (được coi như Giải thưởng Nobel trong toán học), đã viết trên tờ Le Monde (Thế Giới):&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Tạ Quang Bửu và Lê Văn Thiêm là những nhân vật lớn mà nước Việt Nam khoa học không thể nào quên (…). Hai ông đã tiến hành một cuộc đấu tranh đầy khó khăn cho sự vô tư trong khoa học. Các nhà toán học Việt Nam ngày nay đều kính trọng hai con người ấy. Do vậy mà ngày nay Việt Nam vẫn còn là một nước đạt trình độ nghiên cứu toán học cao nhất ở vùng Viễn Đông; ít ra là về những đỉnh cao nghiên cứu, còn về trình độ trung bình thì, giờ đây, Việt Nam đã bị các nước và lãnh thổ được gọi là những “con hổ châu Á” như Hong Kong, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan vượt qua. Nhưng, về những đình cao nghiên cứu, Việt Nam vẫn còn ở hàng đầu…”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiều người trong chúng ta còn nhớ, sinh thời, GS Tạ Quang Bửu đã từng âm thầm chịu đựng trong nhiều năm lời “quy kết” là người theo “chủ nghĩa tài năng”, mất “lập trường giai cấp”!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi qua đời, GS Tạ Quang Bửu được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về “Tập hợp các công trình giới thiệu khoa học - kỹ thuật hiện đại sau năm 1945”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để mãi mãi ghi nhớ cống hiến của ông cho cách mạng và khoa học, ở Hà Nội, có một đường phố mang tên phố Tạ Quang Bửu chạy xuyên qua Trường Đại học Bách khoa, nơi ông từng làm Hiệu trưởng vào những ngày đầu trường mới thành lập.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời gian trôi nhanh! Thấm thoắt đã đền dịp kỷ niệm l00 năm Ngày sinh GS Tạ Quang Bửu. Là nhà báo, nhà văn, là đồng hương Nam Đàn, Nghệ An, và cũng là người em họ của GS Bửu, tôi trân trọng ghi lại đôi điều về con người quá cố vô cùng đáng kính ấy, con người mà, khi ông còn sống, tôi đã may mắn có mối quan hệ chân tình gần gũi .&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6386160990305421427-4194123645856459751?l=danhnhanviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/feeds/4194123645856459751/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6386160990305421427&amp;postID=4194123645856459751' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/4194123645856459751'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/4194123645856459751'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/2010/07/ta-quang-buu-mot-tri-tue-quang-bat.html' title='Tạ Quang Bửu một trí tuệ quảng bác, người chân tình chăm sóc các tài năng khoa học'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/TD7dQU5qpLI/AAAAAAAAHfo/uxfg0Tx6W9k/s72-c/Ta+Quang+Buu.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6386160990305421427.post-8190917495492901214</id><published>2010-05-15T01:06:00.001+07:00</published><updated>2012-01-27T00:37:44.647+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Đọc và suy ngẫm Tết Mậu Thân 1968'/><title type='text'>Đọc và suy ngẫm Tết Mậu Thân 1968</title><content type='html'>DANH NHÂN VIỆT Merle L. Pribbenow II, cựu sĩ quan tác chiến CIA và chuyên gia tiếng Việt của Mỹ đã có công trình nghiên cứu "Tướng Võ Nguyên Giáp  và tiến trình bí ẩn của kế hoạch tấn công Tết Mậu Thân 1968" (General Võ Nguyên Giáp and the Mysterious Evolution of the Plan for the 1968 Tết Offensive). Với một thư mục tài liệu tham khảo công phu và góc nhìn của một chuyên gia tình báo kỳ cựu đã soi sáng nhiều góc khuất của cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 Đây là phát minh của tổng bí thư Lê Duẩn và tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng nhằm giành được một chiến thắng quân sự để khai thác cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 1968, đánh vào ý chí xâm lược Mỹ, giành lợi thế trong các đàm phán . Kế hoạch táo bạo và đầy nguy cơ này đã vấp phải sự phản đối của đại  tướng Võ Nguyên Giáp và sự cân nhắc khôn ngoan của chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư liệu đã soi sáng nhiều điều về vai trò của Bộ Thống Soái và tập thể lãnh đạo, soi rõ hơn  về nhân cách và tài năng kiệt xuất của đại tướng Võ Nguyên Giáp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VÀ TIẾN TRÌNH BÍ ẨN CỦA KẾ HOẠCH TẤN CÔNG TẾT MẬU THÂN 1968&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;General Võ Nguyên Giáp and the Mysterious Evolution of the Plan for the 1968 Tết Offensive&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Merle L. Pribbenow II (Nguyễn Việt dịch)&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;Cuộc tấn công Tết Mậu Thân, mà người Việt Nam gọi là “Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa” có lẽ là sự kiện có sức nảy nở lớn trong lịch sử cuộc chiến tranh dài dặc của Mỹ tại Việt Nam. Như người Việt Nam vẫn thích tuyên bố, cuộc tấn công Tết “đã làm biến đổi cục diện”, thay đổi toàn bộ tính chất của cuộc chiến, và phần lớn sách vở lịch sử về chiến tranh có thể chia một cách rõ ràng thành hai giai đoạn “trước Tết” và “sau Tết”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu chuyện Tết Mậu Thân của phía Mỹ được kể lại vô cùng tỉ mỉ, từ cấp độ chiến lược tới cấp độ chiến thuật, nhưng thật đáng kinh ngạc vì người ta biết được rất ít về nguồn gốc kế hoạch cuộc tấn công Tết bên phía Việt Nam. Các sử gia từng bàn nhiều về việc thành viên hay các thành viên nào của giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã có ý tưởng về cuộc tấn công Tết, những ai ủng hộ ý tưởng này và những ai phản đối, nhưng các bàn luận thường chỉ dựa trên rất ít bằng cứ. Một số xác định đạo diễn của cuộc tấn công Tết Mậu Thân là tướng Võ Nguyên Giáp, tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, người từng được cả thế giới vinh danh ở tư cách một chiến lược gia quân sự hơn một thập niên trước đó với chiến thắng trước người Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954. Những người khác lại cho rằng ý tưởng về cuộc tấn công Tết bắt nguồn từ vị tướng đã quá cố Nguyễn Chí Thanh, người cho tới khi chết vào tháng Bảy năm 1967 vẫn lãnh đạo nỗ lực của cộng sản chống lại các lực lượng Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa. Một vài người khẳng định cuộc tấn công là một nỗ lực tuyệt vọng của những người cộng sản nhằm lật ngược một tình thế khi họ đang phải đối mặt với thất bại không thể tránh khỏi, còn những người khác tuyên bố cuộc tấn công là kết quả của một nhận định quá mức lạc quan của giới lãnh đạo cộng sản về tình hình Việt Nam Cộng hòa. Một số học giả đã kết nối quyết định tung ra cuộc tấn công Tết với cuộc đấu tranh chia rẽ bên trong khối chóp bu chính trị về các khác biệt ý hệ liên quan đến sự đối đầu của phe cộng sản giữa Trung Quốc và Liên Xô (vào quãng thời gian ấy Liên Xô đang ép Việt Nam điều đình một thỏa thuận với Mỹ trong khi Trung Quốc bắt Việt Nam phải tiếp tục chiến đấu và từ chối đối thoại với Mỹ).[1]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ tới khi, hoặc trừ phi, người Việt Nam công khai hóa các hồ sơ nội bộ của Bộ Chính trị và Bộ Tư lệnh tại Hà Nội, bằng không sẽ không thể có lời đáp cuối cùng, tối hậu cho những câu hỏi trên. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đã có một số sách vở, tài liệu của người Việt Nam, chiếu một ánh sáng mới vào sự bí ẩn và cho phép chúng ta có được nhiều kết luận đầy đủ thông tin hơn. Thông tin mới cho thấy tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Nguyễn Chí Thanh đều không phải là người nghĩ ra ý tưởng về cuộc tấn công Tết; bản thân Hồ Chí Minh cũng phản đối cuộc tấn công; cái kế hoạch sau này được thực hiện như đã xảy ra là kết quả của một thỏa thuận ngầm giữa tướng Văn Tiến Dũng, thuộc cấp ở cấp cao nhất của tướng Võ Nguyên Giáp, và tổng bí thư đảng cộng sản Lê Duẩn, đối thủ của tướng Võ Nguyên Giáp trong một quãng thời gian rất dài; Võ Nguyên Giáp phản đối cuộc tấn công Tết mạnh mẽ đến mức sau đó ông bị mất quyền, không chỉ không được tham dự vào tiến trình lập kế hoạch mà còn phải rời Việt Nam sang Đông Âu và không trở về cho tới khi cuộc tấn công Tết đã thực sự mở màn. Mặc dù vẫn còn lại vấn đề về tầm quan trọng của vai trò của những khác biệt về ý hệ trong cuộc đấu đá chia rẽ nội bộ nổ ra bên trong Bộ Chính trị Việt Nam ở quá trình ra quyết định, có vẻ như là các khác biệt ý thức hệ, được tưởng tượng ra hoặc có thật, thực tế đã được phe chiến thắng sử dụng nhằm gia cố và bảo vệ vị thế của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Các tiền đề của kế hoạch&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguồn gốc ý tưởng cuộc “Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa” Tết có thể được tìm thấy ngay từ đầu những năm 1960. Tháng Mười hai năm 1963, chỉ một tháng sau khi tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp tại Hà Nội để bàn luận và thông qua Nghị quyết hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành. Nghị quyết này nhận định rằng “tổng công kích, tổng khởi nghĩa sẽ là hướng phát triển tất yếu của cách mạng miền Nam để đạt tới toàn thắng”.[2] Trung ương Đảng dự tính khả năng chiến thắng cuộc chiến một cách nhanh chóng, trước khi Mỹ quyết định có nên điều các đội quân Mỹ tới cứu chế độ Việt Nam Cộng hòa hay không. Vẫn duy trì đường hướng chung về việc tiến hành một cuộc “chiến đấu lâu dài” ở miền Nam, Nghị quyết 9 kêu gọi một nỗ lực đến mức tối đa nhằm “tranh thủ thời cơ thuận lợi, tập trung lực lượng, quyết tâm giành cho được những thắng lợi có tính chất quyết định trong mấy năm tới”.[3] Tuy nhiên, theo nghị quyết, “tổng công kích, tổng khởi nghĩa”, cái có thể rốt cuộc sẽ lật đổ chế độ miền Nam chỉ có thể được tung ra sau khi quân đội Việt Nam Cộng hòa đã bị “tiêu hao” và trở nên kiệt quệ tới mức không còn đủ sức đàn áp những cuộc nổi dậy của quần chúng nằm ở trung tâm cuộc nổi dậy chung thuộc kế hoạch lớn về tổng tiến công và nổi dậy nữa. Nghị quyết nhận định nhiệm vụ chiến lược của các lực lượng vũ trang cộng sản tại miền Nam sẽ là “làm tan rã quân đội tay sai, công cụ chủ yếu của chế độ địch, tạo điều kiện để thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, lật đổ chính quyền phản động ở miền Nam”.[4]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Chín năm 1964, Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản họp tại Hà Nội để đánh giá tình hình và xem xét quá trình thực hiện Nghị quyết hội nghị IX của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bộ Chính trị quyết định tiến hành một đòn mạnh mẽ nhằm nhanh chóng tiêu diệt quân đội Việt Nam Cộng hòa để “giành thắng lợi quyết định”. Ngoài việc điều các đơn vị chính quy lớn đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (cấp trung đoàn) vào miền Nam để chiến đấu và ra lệnh mở một loạt chiến dịch cấp trung đoàn và sư đoàn với mục đích đè bẹp Quân lực Việt Nam Cộng hòa,[5] Bộ Chính trị và Trung ương Cục miền Nam cũng chỉ thị phải chuẩn bị tung ra cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa. Chiến dịch sẽ được bắt đầu sau khi quân đội Việt Nam Cộng hòa đã bị nghiền nát, và sẽ hướng thẳng vào thành phố thủ phủ miền Nam, Sài Gòn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một cuốn sách của cộng sản thời kỳ hậu chiến tranh miêu tả kế hoạch mang bí số “Kế hoạch X” như sau:&lt;br /&gt;“Trong mùa thu năm 1964… Trung ương Cục miền Nam lập một kế hoạch nhằm chuẩn bị nắm thời cơ tiến hành một cuộc tổng công kích và khởi nghĩa với mục tiêu nhắm đến một thắng lợi quyết định. Kế hoạch được đặt bí số “Kế hoạch X”… Khu vực trung tâm mà Kế hoạch X hướng tới là Sài Gòn-Gia Định… Trong quý ba năm 1964, một cơ quan đặc chủng, được tạo nên từ các thành viên của Quân ủy Trung ương thuộc Trung ương Cục miền Nam và các chỉ huy quân sự của Vùng Quân sự Sài Gòn-Gia Định được tạo nên để thực thi kế hoạch… Theo Kế hoạch X, Vùng Quân sự Sài Gòn-Gia định phải nhanh chóng lập ra các đơn vị đặc công thành đủ sức mạnh để tiến công và chiếm lấy những mục tiêu quan trọng trong thành phố, đồng thời lập ra các đơn vị chiến đấu có vũ trang và các đơn vị tự vệ cho mỗi nhánh nhằm cung cấp xương sống cho phong trào nổi dậy chung. Vùng Quân sự cũng sẽ lập ra năm tiểu đoàn mũi nhọn có thể được sử dụng tại năm khu vực bao quanh vùng ngoại ô của thành phố, đủ sức tiến sâu vào thành phố từ năm hướng. Những tiểu đoàn này có thể nhanh chóng hỗ trợ các đơn vị đặc công thành để giúp họ nắm giữ những mục tiêu riêng lẻ trong khi chờ quân chủ lực của chúng ta và hỗ trợ từ phong trào nổi dậy chung của người dân.”[6]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ý tưởng chia thành phố thành năm khu vực và ý tưởng điều các tiểu đoàn mũi nhọn vào mỗi khu vực nhằm hỗ trợ các nhóm đặc công và “nổi dậy chung” trong khi chờ các đơn vị lớn hơn từ bên ngoài tới nơi sau này sẽ được sử dụng trong kế hoạch về các cuộc tấn công Tết Mậu Thân vào Sài Gòn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong một lá thư đề tháng Hai năm 1965, tổng bí thư Lê Duẩn, một người trung thành với các ý tưởng “tổng khởi nghĩa” và “chiến đấu trong thành phố” và có vẻ như là người ủng hộ Kế hoạch X mạnh mẽ nhất, giải thích kế hoạch cho tư lệnh cộng sản ở miền Nam Việt Nam, tướng Nguyễn Chí Thanh, như sau: “Vấn đề hiện nay của chúng ta là tiếp tục mở rộng sự kiểm soát tại vùng nông thôn và chuẩn bị thực hiện một cuộc tổng khởi nghĩa. Các đô thị sẽ trở thành điểm trọng tâm cho cuộc tổng khởi nghĩa sắp tới.”[7]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lê Duẩn nói điều kiện tiên quyết là các lực lượng cộng sản phải chuẩn bị cho tình hình “bằng cách tiến công và tiêu diệt ba hoặc bốn sư đoàn chính quy ngụy trên chiến trường trong các đợt sóng liên tiếp những cuộc tiến công của lực lượng chúng ta.” Khi điều này đã được hoàn thành, Lê Duẩn nói với tướng Nguyễn Chí Thanh, “Chúng ta sẽ tiến hành một cuộc tổng khởi nghĩa phối hợp với một cuộc tiến công quân sự chung hướng thẳng vào trái tim quân địch để nắm kiểm soát chính quyền. Điều này sẽ hạ gục tinh thần quân đội ngụy. Chiếm ưu thế từ cơ hội ấy, chúng ta sẽ tiến hành những cuộc tiến công quân sự mạnh mẽ đi đôi với những tấn công lớn về chính trị và quân đội của nhân dân, gây tiêu hao cho quân địch và bằng cách đó tạo ra khả năng làm sụp đổ những đơn vị còn lại của quân đội ngụy.”[8]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các yếu tố khác của kế hoạch được Lê Duẩn trình bày trong lá thư, bao gồm việc tạo ra một tổ chức chính trị “mặt trận thứ hai” kiên quyết mang tính trung lập nhằm lập một chính phủ mới và điều đình việc rút quân của Mỹ, sau này sẽ được lặp lại trong kế hoạch cuộc tấn công Tết Mậu Thân.[9] Cuối cùng, cũng như thái độ ông sẽ có trong khi lên kế hoạch cho cuộc tấn công Tết Mậu Thân, Lê Duẩn kiên quyết phủ nhận lập luận cho rằng cuộc tổng nổi dậy của các thành phố chỉ được tiến hành khi nào chiến thắng là chắc chắn, cho rằng nếu những cuộc tấn công tại các thành phố thất bại, các lực lượng cộng sản có thể sẽ chỉ đơn giản là rút lui, tập hợp lại, rồi sau đó sẽ thử lại lần nữa. Lê Duẩn viết:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó mà những cuộc nổi dậy tại các đô thị gặp khó khăn và chúng ta buộc phải rút lui lực lượng, thì cũng không vấn đề gì. Đó sẽ chỉ là một dịp cho chúng ta diễn tập và rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho sau này. Lực lượng của đồng chí Fidel Castro đã tấn công các đô thị ba lần mới thành công. Nếu chúng ta tiến vào được các đô thị nhưng sau đó phải rút lui, thì vẫn không phải lo lắng gì, bởi toàn bộ vùng nông thôn và rừng núi đều thuộc về chúng ta – vị thế và lực lượng của chúng ta đều rất mạnh tại các vùng đó.”[10]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong một bức thư khác gửi Nguyễn Chí Thanh vào tháng Năm 1965, sau khi rất nhiều đội quân chiến đấu lớn của Mỹ đã bắt đầu đổ bộ vào Việt Nam Cộng hòa và viễn cảnh tung ra một cuộc tổng khởi nghĩa tại các thành phố rõ ràng là đã bị thổi bay, Lê Duẩn vẫn tiếp tục bảo vệ ý tưởng của mình. Ông nói với tướng Nguyễn Chí Thanh, “Khi nào có cơ hội, ngay cả khi các yếu tố chỉ cho phép chúng ta 70 hay 80 phần trăm cơ may chiến thắng, thì chúng ta cũng phải nắm lấy cơ hội và tiến hành các cuộc khởi nghĩa thay vì cứ bướng bỉnh đòi hỏi sự hoàn hảo và đợi cho tới khi cơ hội đạt tới 100 phần trăm.”[11]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rốt cuộc, sự triển khai rộng lớn của các lực lượng quân sự Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa bắt đầu vào mùa hè 1965 đã ngăn chặn mọi khả năng về tung ra cuộc tổng tiến công và nổi dậy, nhưng Lê Duẩn không bao giờ thực sự rời bỏ ước mơ của mình.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Vai trò của tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc chiến tranh chống Mỹ&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khoảng giữa những năm 1960, vị trí của tướng Võ Nguyên Giáp trong hệ thống thứ bậc chính trị và quân sự của cộng sản đã có thay đổi lớn, và vai trò của ông trong việc chỉ huy cuộc chiến tranh nói chung đã bị suy yếu. Mặc dù vẫn giữ các trọng trách như Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang Việt Nam, bộ trưởng quốc phòng, và bí thư Quân ủy Trung ương, các quyết định chiến lược về cuộc chiến tranh ở miền Nam đã không còn chỉ duy nhất nằm trong tay của vị tướng nữa. Thay vào đó, những quyết định ấy được thực hiện bởi một tiểu ban đặc biệt gồm năm người của Bộ Chính trị, trong đó Võ Nguyên Giáp chỉ là một thành viên. [12] Một sĩ quan cao cấp của quân đội Việt Nam, từng nhiều năm phục vụ trong Bộ Tổng Tham mưu của Quân đội Nhân dân Việt Nam và là tác giả một cuốn sách xuất bản gần đây về vị tướng với tư cách tư lệnh quân sự viết như sau về thẩm quyền ra quyết định của ông trong “cuộc chiến tranh chống Mỹ”: “Ngoài việc tham gia các thảo luận và quyết định của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, và Quân ủy Trung ương ở các bước riêng biệt ở cấp chiến lược chung, sự dẫn dắt và chỉ huy đối với các tư lệnh ngoài chiến trường ở tướng Võ Nguyên Giáp không ở mức độ trực tiếp như đã từng như vậy trong cuộc kháng chiến chín năm [chiến tranh chống Pháp].”[13]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong một lần phỏng vấn tại Hà Nội, vẫn vị sĩ quan này công nhận rằng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, không giống như trong cuộc chiến tranh chống Pháp, đã xảy ra nhiều bất đồng bên trong Bộ Chính trị về chiến lược và chiến thuật. Vị sĩ quan nói rằng tướng Võ Nguyên Giáp đứng về bên thua cuộc trong rất nhiều cuộc tranh cãi ấy, nhưng “để giữ toàn cục” ông vẫn đi theo đa số sau khi không được ủng hộ.[14]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bản chất chính xác của những tranh cãi bên trong Bộ Chính trị – các thành viên Bộ Chính trị thuộc về phái nào, vân vân – từng là chủ đề tìm hiểu của vô số tác giả trong nhiều năm. Giờ đây một số sử gia xếp Lê Duẩn và các “quân nhân miền Nam” hay các “tư lệnh miền Nam” về một bên và nhân tố “lãnh đạo miền Bắc”, với Võ Nguyên Giáp là một trong các nhân tố chỉ huy, ở phe bên kia.[15] Tôi tin rằng đây là một sự đơn giản hóa quá mức bởi vì rất rõ rằng những bất đồng chỉ là về phương tiện chứ không phải về mục đích. Bất kỳ ai có liên quan cũng chia sẻ cùng một mục tiêu cuối cùng, đó là “giải phóng” miền Nam và thống nhất Bắc-Nam thành một quốc gia Việt Nam duy nhất nằm dưới sự cầm quyền của Đảng Cộng sản. Nhưng điều này không làm cho các bất đồng trở nên kém gay gắt hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguồn gốc xung đột Lê Duẩn-Võ Nguyên Giáp rất mù mờ, nhưng có khả năng là đã bắt đầu ngay từ hồi cuối những năm 1950. Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Trường Chinh bị mất chức lãnh đạo đảng vào tháng Mười năm 1956 vì những “sai lầm” trong khi tiến hành chương trình cải cách ruộng đất thảm khốc, có vẻ như tướng Võ Nguyên Giáp là ứng cử viên một cách tự nhiên ở cương vị lãnh đạo đảng.[16] Tuy nhiên, mặc dù Võ Nguyên Giáp từng một thời là trợ lý thân cận của Hồ Chí Minh trong việc điều hành đảng, ông đã nhanh chóng đánh mất vai trò lãnh đạo của mình vào tay Lê Duẩn. Tháng Tư năm 1957, Lê Duẩn được gọi ra miền Bắc khi đang ở cương vị lãnh đạo của bộ máy cộng sản hoạt động ngầm ở Việt Nam Cộng hòa. Tháng Mười hai cùng năm, Lê Duẩn chính thức giữ chức lãnh đạo đảng khi được bầu vào Ban Bí thư tại Hội nghị lần thứ mười ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng.[17]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một phần nguyên nhân của sự gay gắt trong cuộc đối đầu trong hàng ngũ lãnh đạo giữa Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp có thể tìm thấy ở vai trò của Võ Nguyên Giáp trong việc lên dự thảo cho Nghị quyết hội nghị lần thứ mười lăm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, tài liệu rốt cuộc cũng cho phép sử dụng “đấu tranh vũ trang” ở miền Nam và khiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có trách nhiệm hỗ trợ nhằm “giải phóng” miền Nam. Đầu năm 1957, trước khi Lê Duẩn được gọi từ miền Nam ra, Hồ Chí Minh đã giao cho Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ lên dự thảo nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương về chiến lược của đảng trong cuộc cách mạng ở miền Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hoàng Tùng, một lý thuyết gia và nhà tuyên truyền thuộc hàng lãnh đạo của đảng, một trong hai người được chỉ định giúp tướng Võ Nguyên Giáp lên dự thảo nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương, cho rằng vị tướng đã nhanh chóng nhất trí với ý tưởng về sử dụng “bạo lực cách mạng” nhằm “giải phóng” miền Nam. Tuy nhiên, Hoàng Tùng công nhận Võ Nguyên Giáp cũng là một người biện hộ nhiệt thành cho một giải pháp “hòa bình” đối với tình hình Việt Nam Cộng hòa. Theo Hoàng Tùng, bản dự thảo nghị quyết đã có rất nhiều sửa chữa và liên tục bị trì hoãn. Bản dự thảo cuối cùng của tướng Võ Nguyên Giáp chỉ được gửi cho Lê Duẩn khi nó đã được hoàn thành vào cuối năm 1958. Hoàng Tùng cho biết khi đó Lê Duẩn đã ngồi lại cùng hai người trợ tá viết bản nghị quyết (nhưng không phải là với tướng Võ Nguyên Giáp) nhằm thêm vào nhiều điểm và thực hiện nhiều thay đổi đối với bản dự thảo cuối cùng của vị tướng trước khi trình lên Trung ương Đảng để thông qua vào đầu năm 1959.[18]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những trì hoãn liên tiếp và sự coi thường mà dường như Võ Nguyên Giáp thể hiện đối với những lời kêu gọi của Lê Duẩn nhằm hành động ngay lập tức để hỗ trợ cách mạng miền Nam hẳn đã làm Lê Duẩn phật ý. Sự giận dữ của ông lại càng tăng thêm bởi việc ông bị buộc phải thân chinh trả lời các chất vấn lặp đi lặp lại về các vấn đề liên quan tới nghị quyết từ hai phái viên thuộc bộ phận đảng ở miền Nam. Các phái viên này được cử ra Hà Nội vào mùa hè năm 1957 với mục đích thúc giục Lê Duẩn và giới lãnh đạo đảng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc hỗ trợ và tham gia cuộc “cách mạng” tại miền Nam. Hai người đó, Phan Văn Đáng và Phạm Văn Xô, phải chờ đợi, bị giam lỏng trong một nhà thờ ở Hà Nội, trong suốt mười tám tháng trong khi Võ Nguyên Giáp và các trợ tá của ông bàn thảo về câu từ của bản dự thảo nghị quyết. Lê Duẩn gặp hai phái viên miền Nam mỗi tháng một lần, và lần nào ông cũng phải thông báo với họ rằng “bản dự thảo nghị quyết vẫn chưa xong.”[19] Tình huống này chắc hẳn đã đóng một vai trò quan yếu trong việc làm cho mối quan hệ giữa tướng Võ Nguyên Giáp và Lê Duẩn xấu đi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đe dọa và thách thức – đòi hỏi về một thắng lợi mang tính quyết định&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào khoảng mùa hè năm 1966, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở vào tình thế một cuộc phòng thủ chiến lược trong ít nhất là một năm khi nó phải nỗ lực một cách tuyệt vọng để cung cấp quân lính và quân trang vào miền Nam nhằm không bị thua kém với cuộc đổ quân ồ ạt của các lực lượng chiến đấu Mỹ vào Việt Nam Cộng hòa. Đây không phải là một tình hình dễ chịu cho những người cộng sản Việt Nam, những người, cũng giống như tất cả các nhà Mác xít chân chính, tin rằng điều cốt yếu là phải giữ vững được lập trường ban đầu và luôn không ngừng tấn công. Điều không tránh khỏi là họ sẽ phải cố gắng giành lại thế tấn công ban đầu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giữa tháng Sáu năm 1966, tiểu ban của Bộ Chính trị chuyên trách cuộc chiến tranh ở miền Nam do Lê Duẩn đứng đầu và có thêm Nguyễn Chí Thanh (người có mặt ở Hà Nội cho công việc tham vấn), gặp Quân ủy Trung ương tại Hà Nội để bàn bạc về kế hoạch Bộ Tổng Tham mưu cho chiến dịch “đông-xuân” 1966-1967. Mục đích của chiến dịch ghi trên kế hoạch là “giành một thắng lợi mang tính quyết định” trước Việt Nam Cộng hòa trong năm 1967. Một cuốn sách của Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu tóm tắt kế hoạch như sau: “[Chúng ta sẽ] sử dụng 4 khối chủ lực tiến công địch trên 4 chiến trường: Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Khu 5, Trị Thiên; kết hợp với tiến công và khởi nghĩa ở 3 thành phố lớn Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, tiêu diệt và đánh tan rã chủ lực quân ngụy, đánh thiệt hại nặng quân Mỹ, giành thắng lợi quyết định trên chiến trường miền Nam trong năm 1967.”[20]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo các ghi chép từ cuộc gặp, Nguyễn Chí Thanh ủng hộ ý tưởng tìm kiếm một “thắng lợi mang tính quyết định” trong năm 1967 nhưng thận trọng vì trong dịp đông-xuân sắp tới các lực lượng Trung ương Cục miền Nam tại miền Nam sẽ phải tập trung vào các hoạt động phòng thủ nhằm đánh thắng “cuộc phản công chiến lược” mùa khô 1966-1967 của Mỹ. Điều đó có nghĩa là các lực lượng cộng sản sẽ phải tiếp tục chiến đấu trong mùa hè thay vì có đợt ngưng như thường lệ để nghỉ ngơi và củng cố lực lượng. Trong cuộc gặp, tướng Võ Nguyên Giáp bày tỏ sự ủng hộ của ông đối với việc tiến hành “những trận đánh lớn” nhằm giành một thắng lợi, nhưng nhấn mạnh rằng những cuộc tấn công vào các thành phố cần được khởi đầu bằng những tấn công quân sự nhỏ và chỉ dần dần tiến tới bước “nổi dậy” tại một số vùng và thành phố đặc thù, khi mà các lực lượng cộng sản đã chiếm được quyền kiểm soát ở những vùng đó.[21]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuộc thảo luận tháng Sáu năm 1966 về kế hoạch cho một “thắng lợi mang tính quyết định” hẳn đã chịu ảnh hưởng từ các cuộc nổi dậy của Phật giáo và biến động miền Trung nửa đầu của năm 1966, những gì mà phe cộng sản hẳn đã coi như là các dấu hiệu cho thấy quân đội Việt Nam Cộng hòa và chính phủ miền Nam bắt đầu sụp đổ. Tuy nhiên, có vẻ như là sẽ đúng hơn nếu nói nó phản ánh một quyết định về chính sách ban đầu của Bộ Chính trị cuối cùng được chính thức hóa vào tháng Giêng 1967, khi Trung ương Đảng Cộng sản thông qua Nghị quyết hội nghị mười ba, kêu gọi việc thực hiện một chiến lược “vừa đánh vừa đàm” và khởi đầu các cuộc thương thuyết với Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong các trình bày riêng biệt trong cuộc tranh luận về Nghị quyết 13, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh và Tổng Tham mưu trưởng, tướng Văn Tiến Dũng, nói với các đại biểu của Trung ương rằng vì hai phía trong cuộc chiến tranh đều đang rất bế tắc, người Mỹ đang phải đối diện với một lựa chọn giữa ba chiến lược có thể có cho tương lai: (1) mở rộng chiến tranh thông qua mở rộng ném bom và xâm lấn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, (2) gửi thêm rất nhiều quân và quân trang để chiến đấu và tìm cách chiến thắng trong một cuộc chiến kéo dài tại miền Nam, hoặc (3) nỗ lực để giành một thắng lợi quân sự quan trọng trong năm 1968 rồi sử dụng thắng lợi đó thương thuyết một giải pháp chính trị từ một vị thế có sức mạnh, một giải pháp có thể vẫn cho phép giữ lại chính quyền “tân thực dân” ở Việt Nam Cộng hòa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những lựa chọn đó mang lại cho người cộng sản Việt Nam không chỉ một mối đe dọa nguy hiểm mà cả một cơ hội nữa. Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh nói với Trung ương rằng bởi có bất ổn ngay trong lòng nước Mỹ, và đặc biệt là bởi có tác động mà cuộc chiến hẳn sẽ có lên kỳ tranh cử tổng thống năm 1968, một cuộc tranh luận nảy lửa đang nổ ra bên trong giới chức Mỹ giữa phe “diều hâu”, những kẻ ủng hộ hành động mạnh mẽ hơn chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và phe “bồ câu”, những người ủng hộ thương thuyết để chấm dứt chiến tranh nhưng vẫn giữ lại một miền Nam Việt Nam độc lập. Vị bộ trưởng ngoại giao nói rằng Tổng thống Lyndon B. Johnson đang không chắc sẽ phải làm gì nhưng nghiêng về giải pháp thứ ba, tìm kiếm một dạng thành công nhanh chóng về quân sự với liền tiếp theo là một thỏa thuận thông qua thương thuyết trước khi diễn ra bầu cử, nhằm được tiếp tục tại vị.[22]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Duy Trinh khuyên Trung ương thông qua chiến lược do Bộ Chính trị đề ra, sử dụng “củ cà rốt” thương thuyết và một “chiến lược vừa đánh vừa đàm” nhằm khai thác mong muốn của Johnson trong việc thực hiện được một thỏa thuận thông qua thương thuyết trước kỳ bầu cử 1968. Nguyễn Duy Trinh nói rằng Bộ Chính trị đã đặt ra hai mục tiêu chính cho các thương thuyết. Mục tiêu thứ nhất là làm cho nước Mỹ ngừng ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và mục tiêu thứ hai là buộc Mỹ rút quân khỏi miền Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ý tưởng sử dụng chiến lược vừa đánh vừa đàm không phải là điều gì mới mẻ. Tổng bí thư Lê Duẩn từng bàn về ý tưởng này trong một bài phát biểu vào dịp Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào tháng Mười hai 1965. Trong bài phát biểu, ông nói rõ rằng có nhiều ý kiến khác nhau ngay trong phe xã hội chủ nghĩa về việc sử dụng “vừa đánh vừa đàm”, và ông đã chỉ ra các điều kiện cần thiết trước khi một chiến lược như vậy có thể được sử dụng: trước hết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải giành được “những thắng lợi to lớn và giòn giã hơn nữa” và phải đạt được sự nhất trí ở mức độ nào đó “trong các đảng, các nước xã hội chủ nghĩa anh em… về ý tưởng vừa đánh vừa đàm.”[23]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiệm vụ có được một sự nhất trí nào đó với “các nước xã hội chủ nghĩa anh em” trong việc sử dụng ý tưởng vừa đánh vừa đàm thuộc về các nhà ngoại giao và lãnh tụ chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Liên Xô đang mạnh mẽ thúc đẩy giới lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào đàm phán, trong khi Trung Quốc kịch liệt phản đối mọi thương thuyết với Mỹ.[24] Tuy nhiên, trước khi các đàm phán có thể bắt đầu, trước hết Quân đội Nhân dân Việt Nam cần giành được một thắng lợi quan trọng ở mặt trận nhằm cung cấp cho các nhà ngoại giao của họ thế mạnh đối với người Mỹ tại bàn đàm phán. Như Nguyễn Duy Trinh trình bày trong báo cáo của ông tại hội nghị Trung ương, “khi chưa giành được thắng lợi đó thì trên bàn hội nghị cũng chưa giành được thắng lợi.”[25]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để hỗ trợ cho chiến lược vừa đánh vừa đàm, Nghị quyết 13 của Trung ương kêu gọi một “cố gắng cao độ… giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn”. Một “thắng lợi quyết định” được định nghĩa như là thắng lợi gây ra tổn thất nặng nề cho quân Mỹ, tiêu diệt một lực lượng lớn của quân đội Việt Nam Cộng hòa nhằm làm cho quân đội đó trở nên tê liệt, và tạo ra một cuộc “tổng công kích-tổng khởi nghĩa” tại các thành phố và các vùng nông thôn. Mục đích tối hậu là làm cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ và thay thế nó bằng một chính quyền liên hiệp không cộng sản rộng rãi, sẽ kiên quyết đàm phán một thỏa thuận cho phép Mỹ rời khỏi Việt Nam mà không bị mất mặt.[26] Tuy nhiên, nghị quyết cũng rất rõ ràng ở điểm cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa sẽ chỉ được tiến hành vào thời điểm cuối của một tiến trình dần dần, từng bước một: “Kết hợp với đấu tranh chính trị, [chúng ta phải] xây dựng thực lực, từng bước giành quyền làm chủ của ta ở các đô thị, làm yếu sự kiểm soát của địch, đẩy mạnh phong trào đô thị, tạo điều kiện tiến lên tổng công kích và tổng khởi nghĩa.”[27] Chưa hề có một ý nghĩ nào về việc tung ra một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa một mất một còn tại các thành phố trước khi các lực lượng quân sự của kẻ thù đã bị nghiền nát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong vòng hơn một năm, trọn vẹn năm 1966 và tới nửa đầu năm 1967, Nguyễn Chí Thanh và Võ Nguyên Giáp tiến hành một “cuộc chiến lời lẽ” trên các tờ báo và tạp chí lý luận cộng sản về tương quan đúng đắn giữa “những trận đánh lớn” và chiến tranh du kích. Rất nhiều điều đã được viết ra về những lý lẽ ấy, và ở đây cũng sẽ không có gì nhiều để thêm vào.[28] Tôi tin rằng việc những lý lẽ hết sức công khai đó nghiêm túc đến mức độ nào xứng đáng là chủ đề của một tranh luận. Trong Bộ Chính trị của Việt Nam thời chiến, cũng như trong phần lớn các tổ chức độc tài, lý lẽ càng nghiêm túc thì nó càng được giữ bí mật hơn – Bộ Chính trị không thích vạch áo cho người xem lưng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dẫu cho tầm quan trọng thực thụ của cuộc đối đầu tay đôi của các bài báo Nguyễn Chí Thanh-Võ Nguyên Giáp có là như thế nào, thì Nghị quyết 13 cũng rất rõ ràng về việc lãnh đạo đảng đã quyết định áp dụng một chiến lược hỗn hợp quân sự-chính trị-ngoại giao hướng tới đạt được một thỏa thuận qua đàm phán với các điều khoản thuận lợi cho người cộng sản nhưng điều này không gây ra một thất bại rõ ràng và làm người Mỹ bị nhục nhã. Quyết định này có nghĩa là lý lẽ “những cuộc chiến lớn” đã chiến thắng, bởi chiến lược mới đòi hỏi một thành công quân sự nhanh chóng và có tầm vóc lớn theo một cách nào đó nhằm mang lại cho các nhà ngoại giao phe cộng sản lợi thế mà họ cần để đàm phán một giải pháp chấp nhận được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quyết định của đảng có thể dự đoán theo hai nhận định sau đây: (1) Các đánh giá về mặt chính trị trước kỳ bầu cử tổng thống Mỹ năm 1968 có thể khiến cho người Mỹ hướng theo một thỏa thuận như vậy, và (2) nếu người cộng sản không nhanh chóng có động thái, người Mỹ có thể tự có quyết định trước trong việc sử dụng một dạng hành động quân sự lớn nào đó (chẳng hạn tấn công ồ ạt miền Bắc Việt Nam hoặc tấn công sang Lào để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh) nhằm phá vỡ thế bế tắc và kết thúc chiến tranh với lợi thế thuộc về Mỹ trước kỳ bầu cử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Tư năm 1967, lãnh đạo cấp cao của Bộ Tổng Tham mưu gặp nhau để thảo luận về các đường hướng cho một kế hoạch nhằm giành một “thắng lợi quyết định” trong chiến dịch “đông-xuân” 1967-1968. Các lãnh đạo nhấn mạnh mối đe dọa, cho rằng các lực lượng cộng sản phải thọc sâu thật nhanh, trong khi Mỹ vẫn đang xem xét việc thay đổi chiến lược. (Chính vào lúc này tướng William Westmoreland vừa mới gửi một yêu cầu tới Washington đòi tăng thêm hai trăm nghìn quân, các lực lượng có thể được sử dụng cho các cuộc tấn công trên bộ vào Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoặc Lào).[29] Lãnh đạo Bộ Tổng Tham mưu miêu tả tình thế như sau: “Nếu mùa hè 1967 ta không tạo được chuyển biến để giành thắng lợi thì cả hai miền Nam-Bắc sẽ gặp nhiều khó khăn trong năm 1968.”[30]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các sĩ quan cao cấp của Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho những người chịu trách nhiệm lên kế hoạch là trong khi làm dự thảo kế hoạch, họ cần tính đến các “yếu tố chính trị” – cuộc bầu cử tổng thống tại Việt Nam Cộng hòa vào tháng Chín năm 1967 và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng Mười một năm 1968. Ban lãnh đạo đặt ra các mục tiêu cần đạt được nhằm giành thắng lợi mong muốn: (1) “tiêu diệt” 150.000 lính Mỹ, bao gồm cả việc tiêu diệt ba trên năm lữ đoàn Mỹ, (2) “tiêu diệt” 300.000 quân Việt Nam Cộng hòa, bao gồm cả việc tiêu diệt từ sáu đến bảy sư đoàn, (3) “giải phóng” từ 5 đến 8 triệu người dân miền Nam và (4) “giải phóng” các thành phố Đông Hà và Quảng Trị, tiêu diệt các căn cứ địch tại Ban Mê Thuột và Kon Tum, và tiến hành các đợt tấn công vào Huế, Sài Gòn, cũng như thủ phủ của nhiều tỉnh.[31]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiểu ban của Bộ Chính trị chuyên trách chiến tranh tại miền Nam gặp nhau nhiều lần trong khoảng thời gian từ cuối tháng Tư tới tháng Sáu năm 1967 nhằm xem xét kế hoạch do Bộ Tổng Tham mưu vạch ra. Ngay cả Tổng Tham mưu trưởng, tướng Văn Tiến Dũng, cũng không hài lòng với kế hoạch. Nhiều năm sau Văn Tiến Dũng sẽ nhớ lại:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Kế hoạch đã được trình lên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, nhưng càng nghĩ về nó, chúng tôi càng cảm thấy bất an. Kế hoạch giống như kế hoạch của chúng ta cho chiến dịch đông-xuân trước đó, khác biệt duy nhất là các mục đích cao hơn. Các mục tiêu và các chiến thuật, phương pháp đánh trận, đều vẫn giống như những gì chúng ta đã thực hiện năm trước đó, nhưng thực tế mặt trận cho thấy chúng ta sẽ không thể đạt được các mục tiêu ấy.”[32]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo một bộ sách của Cục Tác chiến thuộc Bộ Tổng Tham mưu, khi những mối quan ngại được trình bày về các khiếm khuyết của kế hoạch, tướng Nguyễn Chí Thanh, người ở Hà Nội từ đầu năm 1967, chỉ trả lời rất đơn giản bằng cách yêu cầu Cục Tác chiến tiếp tục nghiên cứu các ý đồ chiến lược với mục đích sao cho các lực lượng cộng sản có thể được đưa tới điểm nơi có thể hoàn thành các mục tiêu đã định.[33]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vấn đề có vẻ như là không thể giải quyết. Một cuốn sách của bên cộng sản Việt Nam cho biết vào thời điểm kết luận của cuộc họp Bộ Chính trị tháng Sáu năm 1967 nhằm xem xét kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu cho cuộc tấn công 1968, “Bộ Chính trị không thể hình dung được là một thắng lợi mang tính quyết định có thể đạt được trong năm 1968 thông qua các trận đánh quy mô lớn… Sau hai năm trực tiếp chiến đấu chống lại quân đội Mỹ… Việt Nam nhận ra rằng việc tiêu diệt hoàn toàn một đơn vị cấp đại đội hoặc tiểu đoàn… là rất khó.”[34] Trong các cuộc họp của Bộ Chính trị, Lê Duẩn nhấn mạnh mối nguy của hành động quân sự mang tính quyết định có thể có từ phía Mỹ nếu không tìm ra được một giải pháp cho vấn đề giành được một thắng lợi quân sự mạnh mẽ nhanh chóng. Lê Duẩn nói, “Mỹ không còn con đường nào khác là phát huy sức mạnh quân sự. Đối phó với âm mưu này của Mỹ, ta phải đưa hoạt động quân sự lên một bước mới, đến mức Mỹ không chịu nổi và phải chấp nhận thất bại về quân sự, cô lập về chính trị. Nếu ta thực hiện được, Mỹ sẽ phải rút khỏi miền Nam.”[35]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Một cái chết và một cuộc soán đổi&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào buổi sáng sớm ngày 6 tháng Bảy năm 1967, tiếp theo một ngày dành riêng cho tiệc tùng thuộc một loạt bữa tiệc tạm biệt trước khi ông lên đường quay về mặt trận miền Nam, tướng Nguyễn Chí Thanh lên cơn nhồi máu tại nhà mình ở Hà Nội. Ông được đưa ngay vào Bệnh viện Quân đội 108, bệnh viện tốt nhất trên toàn miền Bắc, nhưng vào lúc chín giờ sáng, trái tim ông đã ngừng đập và ông được tuyên bố là đã qua đời.[36]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cái chết của tướng Nguyễn Chí Thanh đặt chính sách cộng sản Việt Nam tại miền Nam vào một sự lúng túng to lớn. Không chỉ đảng phải gánh lên vai mình một kế hoạch có vẻ như không hứa hẹn nhiều triển vọng thành công, mà giờ đây vị lãnh đạo lên kế hoạch ấy đã chết. Ngày hôm sau hai sĩ quan cộng sản cao cấp, tướng Chu Huy Mân và thượng tướng Nguyễn Văn Vịnh, được cử vào Nam (qua đường Trung Quốc và Cambodia) để truyền đạt cho bộ tư lệnh miền Nam những dự tính mới nhất của đảng về chiến dịch đông-xuân 1967-1968,[37] nhưng các truyền đạt của họ không thể nào bù đắp được khoảng trống do cái chết của Nguyễn Chí Thanh để lại. Cần phải chọn một nhà lãnh đạo mới cho miền Nam, và gần như không thể tránh khỏi việc chỉnh sửa kế hoạch. Con đường đã rộng mở cho một con người đầy tham vọng đang hăng hái tiến về phía trước nhằm nắm lấy quyền chỉ huy – và con người đó đã sẵn sàng. Tên ông là Văn Tiến Dũng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tướng Văn Tiến Dũng từng là thuộc cấp của tướng Võ Nguyên Giáp trong vòng một thập niên rưỡi. Văn Tiến Dũng từng là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam khi Võ Nguyên Giáp là tư lệnh tối cao Các Lực lượng Vũ trang và bí thư Quân ủy Trung ương. Có khả năng là hai người không có nhiều điểm chung với nhau. Võ Nguyên Giáp là người gốc miền Trung, xuất thân từ một gia đình quan lại, từng học đại học và làm thầy giáo tại một trường trung học (một nghề được kính trọng tại Đông Dương thời thuộc Pháp). Tướng Văn Tiến Dũng sinh ra ngay tại ngoại thành Hà Nội, xuất thân từ giai cấp nông dân, chỉ học tới lớp sáu, và từng làm công nhân bình thường trong một xưởng dệt.[38] Tâm tính nóng nảy của Võ Nguyên Giáp được cả bạn bè lẫn kẻ thù của ông biết rõ, nên làm việc cho ông trong một quãng thời gian dài đến vậy hẳn không luôn luôn là một việc dễ dàng. Mặc dù chúng ta không thể biết liệu hành động mà Văn Tiến Dũng thực hiện có phải là để chủ ý thay thế Võ Nguyên Giáp và chuyển lên nắm giữ vị trí của người thủ trưởng hay không, hành động của Văn Tiến Dũng rõ ràng là bước đi đầu tiên trong việc đưa tiến trình ấy vào thực tế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong một bài phỏng vấn với tờ báo Quân đội Nhân dân vào năm 2004, Văn Tiến Dũng miêu tả những gì xảy ra sau đó: “Càng nghĩ về tình hình, tôi lại càng tin rằng chúng ta phải có những mục đích mới, những mục tiêu mới, và những phương pháp tiến công mới. Chúng ta cần rà soát lại toàn bộ kế hoạch đông-xuân 1967-1968. Tôi xin được gặp đồng chí Lê Duẩn để thảo luận về vấn đề này.”[39] Nói một cách khác, Văn Tiến Dũng đã vượt cấp tướng Võ Nguyên Giáp để gặp riêng kẻ thù lớn của thủ trưởng mình, Lê Duẩn. Ý nghĩa của hành động này hẳn không lọt qua được mặt Lê Duẩn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi Văn Tiến Dũng trình bày các mối lo ngại về tính chất không thích hợp của kế hoạch hiện có, Lê Duẩn trả lời bằng một đề nghị rất đáng kinh ngạc: Tại sao chúng ta lại không thể đẩy cuộc tấn công chiến lược của chúng ta tới giai đoạn cuối cùng, cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa?[40]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về thực chất, Lê Duẩn gợi ý rằng, vì các lực lượng cộng sản ở miền Nam không có khả năng hoàn thành các mục tiêu tức thời được cho là cốt yếu trong việc tạo ra những điều kiện cho phép “các lực lượng cách mạng” tiến đến giai đoạn gần kết của cuộc chiến, cho nên các bước tức thời cần được bỏ qua. Trước đây ai cũng nhất trí về các điều kiện cần có trước khi một cuộc tổng khởi nghĩa được tiến hành – quân đội Việt Nam Cộng hòa và bộ máy an ninh Việt Nam Cộng hòa bị nghiền nát và các lực lượng Mỹ bị tê liệt và/hoặc vô hiệu hóa – bởi vì nếu các điều kiện đó không được đảm bảo thì quân đội Việt Nam Cộng hòa và lực lượng Mỹ sẽ chỉ đơn giản là đàn áp “những người cách mạng” thường dân không có vũ trang đưa dân chúng xuống đường trong cuộc tổng khởi nghĩa. Giờ đây Lê Duẩn gợi ý rằng, khi thiếu vắng dù chỉ một lựa chọn khả dĩ nào khác về việc đạt được mục tiêu tức thời, những người cộng sản phải xem xét đến việc đánh liều mọi thứ vào một canh bạc. Văn Tiến Dũng đồng ý ngay với Lê Duẩn, và Lê Duẩn sai Văn Tiến Dũng điều hành Quân ủy Trung ương chuẩn bị một báo cáo theo hướng này để Bộ Chính trị xem xét.[41] Võ Nguyên Giáp có thể vẫn là bí thư của Quân ủy Trung ương, nhưng mệnh lệnh trên thực tế đã trao quyền hạn cho Văn Tiến Dũng, vì tướng Văn Tiến Dũng nhận lệnh trực tiếp từ đích thân Lê Duẩn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại sao Văn Tiến Dũng lại đồng ý với một gợi ý như thế? Với tư cách một quân nhân chuyên nghiệp, hẳn ông phải nhận ngay ra những nguy cơ tiềm tàng trong lời gợi ý của Lê Duẩn. Chắc chắn một trong các lý do nằm ở tham vọng cá nhân của chính Văn Tiến Dũng. Một lý do khác có thể là kế hoạch ban đầu đã đặt thẳng lên vai quân đội trách nhiệm tiên quyết về thắng lợi hay thất bại. Gợi ý của Lê Duẩn có nghĩa là giờ đây quân đội có thể chia sẻ trách nhiệm về thắng lợi hay thất bại với bộ phận chính trị và tuyên truyền của đảng, bộ phận có trách nhiệm thúc đẩy và lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa. Nếu kế hoạch ban đầu thất bại, Văn Tiến Dũng có thể mất chức Tổng Tham mưu trưởng, nhưng một liên minh với Lê Duẩn ở kế hoạch mới này có thể bảo vệ Văn Tiến Dũng và giúp ông thăng tiến trong sự nghiệp. Ngay cả khi kế hoạch này thất bại, thì mọi người sẽ chỉ coi Lê Duẩn, chứ không phải Văn Tiến Dũng, như là kiến trúc sư của kế hoạch. Chắc chắn đây không phải lần đầu tiên một vị tướng nhắm mắt làm theo một kế hoạch đầy nguy cơ được đẩy sang cho ông từ các thượng cấp về chính trị, một kế hoạch lờ đi các hậu quả của những quyết định về quân sự. Chỉ cần nghĩ tới các thành viên của Bộ Tổng Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ trong những giai đoạn khởi đầu của Chiến tranh Việt Nam[42] hoặc của tướng Tommy Franks trong Chiến dịch Iraq Tự do là đủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Một cuộc tranh luận dai dẳng và sự biến mất của Võ Nguyên Giáp&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 18-19 tháng Bảy năm 1967, Bộ Chính trị gặp để xem xét kế hoạch mới về giành một thắng lợi mang tính quyết định. Kế hoạch mới mà Lê Duẩn và Văn Tiến Dũng nhất trí với nhau vẫn chưa được đưa ra, nhưng ý tưởng chung về kế hoạch có vẻ như đã được trình bày lần đầu tiên ở cuộc gặp này: một cuộc tấn công chính trị-quân sự một mất một còn hướng vào các thành phố trong khi các lực lượng lớn của cộng sản tập trung nỗ lực vào việc lừa quân địch xa khỏi các thành phố và kìm chân đủ lâu để cho phép các cuộc tấn công thành phố thành công trong việc lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Các ghi chép của Văn Tiến Dũng tại cuộc gặp cho thấy lãnh tụ đáng kính của Bắc Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nêu nhiều câu hỏi về tính khôn ngoan của kế hoạch. Các ghi chép của Văn Tiến Dũng cho biết Hồ Chí Minh đã nêu lên những điểm sau:&lt;br /&gt;1. Dự thảo báo cáo tốt, toàn diện, lạc quan, nhưng cần xem báo cáo của Quân ủy có chủ quan [phi thực tế] không?&lt;br /&gt;2. Tranh thủ giành thắng lợi sớm, nhưng phải chú ý đánh lâu dài.&lt;br /&gt;3. Thuận lợi có nhiều nhưng phải thấy những khó khăn như mặt hậu cần bảo đảm.&lt;br /&gt;4. Nói giành thắng lợi quân sự, nhưng phải chú ý đến việc giữ sức dân, nếu người và của kiệt, thì quân nhiều cũng không đánh được.&lt;br /&gt;5. Phải chú ý mở rộng chiến tranh du kích, tăng cường trang bị cho du kích.&lt;br /&gt;6. Phải làm sao ta càng đánh càng mạnh, đánh liên tục đánh được lâu dài [nghĩa là có khả năng thực hiện một cuộc chiến tranh lâu dài].[43]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tài liệu đã công bố của cộng sản không cho biết phản ứng của tướng Võ Nguyên Giáp trước kế hoạch, cũng như việc liệu vị tướng có mặt ở cuộc họp hay không. Từ thời điểm này trở đi không có tài liệu đã công bố nào cho thấy Võ Nguyên Giáp hiện diện ở bất kỳ cuộc họp lên kế hoạch nào, và một sĩ quan cao cấp của quân đội Việt Nam đã công nhận rằng: “trong giai đoạn kế hoạch chiến lược đang thành hình, cũng như trong những ngày khởi đầu làn sóng đầu tiên của cuộc tổng tiến công chiến lược Tết Mậu Thân, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp thường xuyên vắng mặt khỏi Bộ Tổng Hành dinh và không dự nhiều cuộc họp quan trọng của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, hay các cuộc gặp chung của tiểu ban năm người trong Bộ Chính trị tổ chức với Quân ủy Trung ương.”[44]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, các nguồn thông tin của Việt Nam nói tướng Võ Nguyên Giáp phản đối nhiều chi tiết quan trọng trong kế hoạch ngay từ đầu bởi vì, ông nói, một cuộc tổng khởi nghĩa là không thể thực hiện trừ khi các lực lượng đối phương, quân đội Việt Nam Cộng hòa và lực lượng Mỹ, đã bị làm cho tê liệt.[45]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc cho những phản đối của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và nhiều người khác, tiến trình lập kế hoạch vẫn được thực hiện với một nhịp điệu gấp gáp, với Lê Duẩn và Văn Tiến Dũng ở vị trí chỉ huy, và đến cuối tháng Tám kế hoạch đã thành hình. Thành viên Bộ Chính trị Phạm Hùng, người đã được cử vào Nam hồi tháng Tám để thay chỗ Nguyễn Chí Thanh làm bí thư Trung ương Cục miền Nam và lãnh đạo miền Nam, mang theo cùng với mình bản dự thảo đầu tiên của kế hoạch mới “tấn công các đô thị”. Các nhà lãnh đạo cao cấp từ tất cả các vùng miền Nam được gọi ra Bắc để được thông báo về ý tưởng mới trước khi quay trở về xây dựng kế hoạch riêng của mình nhằm thực hiện ý tưởng trong sự bí mật tuyệt đối.[46]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kế hoạch mới đặc biệt tập trung vào việc tấn công các thành phố và gây nên một “cuộc tổng khởi nghĩa”, nhưng kế hoạch trước đó muốn các lực lượng chính chiến đấu “các trận đánh lớn” vẫn không hoàn toàn bị loại bỏ. Trên thực tế, có vẻ như là ở một số khía cạnh của cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa, nghĩa là những cuộc tấn công vào mọi đô thị và thủ phủ các tỉnh, chỉ đơn giản là dựa vào kế hoạch cũ, nhờ cậy tới lực lượng chính, những cuộc tấn công và những “trận đánh lớn” đối với một số đô thị được lựa chọn nhằm tạo cơ sở cho những cuộc nổi dậy trong tương lai. Yếu tố “trận đánh lớn” chủ yếu của kế hoạch mới giờ đây được tập trung vào Chiến trường B5, tức nửa phía Bắc tỉnh Quảng Trị, ngay phía Nam của Vùng Phi quân sự và giới tuyến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trải dài từ Khe Sanh trên biên giới với Lào sang tới vùng Đông Hà, bờ biển phía Đông. Bốn sư đoàn chính quy của Quân đội Nhân dân Việt Nam và các đơn vị hỗ trợ ở khu vực này chịu trách nhiệm “tiêu diệt khoảng từ hai mươi tới ba mươi nghìn quân địch, tiêu diệt tổng cộng từ năm tới bảy tiểu đoàn lính Mỹ và từ hai tới ba trung đoàn quân ngụy, và dụ từ hai đến ba sư đoàn địch (ít nhất là hai trong số đó là lính Mỹ) ra khỏi các vùng khác nhằm tham chiến dọc theo Đường 9.”[47]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối tháng Mười, Bộ Chính trị họp trong năm ngày (từ 20 đến 24 tháng Mười) để xem xét và thông qua kế hoạch mới được trình lên. Thật đáng ngạc nhiên, cả Lê Duẩn lẫn Võ Nguyên Giáp đều không dự cuộc họp này, và Trường Chinh là người chủ trì hội nghị Bộ Chính trị đó. Một cuốn sách thời hậu chiến của Việt Nam cho biết cả Lê Duẩn lẫn Võ Nguyên Giáp đều “ở nước ngoài” để điều trị sức khỏe.[48] Các “vấn đề sức khỏe” rất có thể chỉ là một cái cớ, và người ta có thể hữu lý khi cho rằng cuộc tranh cãi giữa hai người đã trở nên gay gắt đến mức nhằm giữ được “hòa khí” cả hai đều không được dự hội nghị.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quả thực, vào quãng thời gian Bộ Chính trị họp, Võ Nguyên Giáp, nhận ra lý lẽ của mình có khả năng bị thua, đã ở Hungary, nơi ông “nghỉ ngơi” và điều trị bệnh thận. Vị tướng cố tình trì hoãn việc trở về Việt Nam và mãi đầu tháng Hai 1968 mới về tới Hà Nội, sau khi Cuộc Tấn công Tết đã bắt đầu.[49] Võ Nguyên Giáp không công khai phản đối cuộc tấn công, nhưng ông đã để cho sự vắng mặt của mình ngầm chỉ ra sự bất đồng đối với kế hoạch mới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào cuối cuộc hội nghị tháng Mười, Bộ Chính trị thông qua phần quân sự của kế hoạch chiến dịch đông-xuân 1967-1968. Tuy nhiên, Bộ Chính trị nhất quyết hoãn việc thông qua khía cạnh tổng khởi nghĩa của kế hoạch, cho rằng cần phải “nghiên cứu thêm”. Các thành viên của Bộ Chính trị nhận định rằng quyết định về phần cuộc tổng khởi nghĩa của kế hoạch cần được thực hiện sau này, sau khi đã tham khảo ý kiến “của các đồng chí lãnh đạo khác”. Rõ ràng điều này muốn ám chỉ sự vắng mặt của Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, và Hồ Chí Minh, người đang “hồi phục sức khỏe” tại Trung Quốc.[50] Nhưng tướng Võ Nguyên Giáp sẽ không cố gắng biện hộ cho lý lẽ của mình nữa, và “Bác Hồ”, người tỏ ra phản đối trong các thảo luận của Bộ Chính trị hồi tháng Bảy, đã không còn đủ sức lực hoặc uy quyền để lấn lướt Lê Duẩn được nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau thêm nhiều bàn luận và xem xét hăng hái về kế hoạch, Bộ Chính trị lại họp vào tháng Mười hai, thông qua kế hoạch dưới hình thức một nghị quyết sẽ được trình lên Trung ương Đảng Cộng sản để được thông qua lần cuối cùng. Hồ Chí Minh từ Trung Quốc trở về một thời gian rất ngắn để dự cuộc họp này nhưng sau đó lại ngay lập tức quay lại Trung Quốc để tiếp tục “điều trị”.[51]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng giêng, Trung ương họp để xem xét và thông qua nghị quyết của Bộ Chính trị cho phép tiến hành tổng công kích-tổng khởi nghĩa. Để giữ “bí mật”, thay vì họp ở Hà Nội các đại biểu Trung ương được chuyển đi cách thành phố năm mươi km tới một huyện lỵ ở tỉnh Hòa Bình.[52] Lê Duẩn đọc diễn văn khai mạc phiên họp của Trung ương. Trong bài diễn văn Lê Duẩn cho biết “trong Bộ Chính trị cũng có đồng chí bận việc không đến được” và nói tướng Văn Tiến Dũng (chứ không phải Võ Nguyên Giáp) sẽ thay mặt Quân ủy Trung ương báo cáo cho hội nghị.[53] Thành công của tướng Văn Tiến Dũng, ít nhất tạm thời, là hoàn toàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau một số tranh luận, Trung ương thông qua kế hoạch, gọi tên là Nghị quyết hội nghị mười bốn Ban Chấp hành Trung ương. Theo một nguồn tin của Việt Nam, Hồ Chí Minh từ chối bỏ phiếu thông qua nghị quyết như một cách thể hiện những dè dặt của ông về tính chất khôn ngoan của kế hoạch.[54]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không chỉ có một chi tiết cuối cùng còn chưa được rõ ràng. Thật đáng ngạc nhiên, có lẽ là vì những xung đột nội bộ gay gắt và các tranh cãi đi liền với việc hình thành kế hoạch, ngày giờ chính xác của cuộc tấn công chưa được ấn định. Quyết định cuối cùng theo đó cuộc tấn công sẽ được tiến hành vào đêm 30-31 tháng Giêng, đêm Nguyên đán, mãi 15 tháng Giêng mới được đưa ra, chỉ hai tuần trước khi khởi đầu cuộc tấn công.[55] Sự chậm trễ này gây ra bối rối đáng kể trong các tổng hành dinh cấp vùng, tiểu vùng, và cấp tỉnh tại miền Nam. Ở một số vùng, bức điện phút cuối của Bộ Tổng Tham mưu ra lệnh mở cuộc tấn công vào đêm cuối cùng của năm âm lịch còn bị hiểu nhầm vì giữa Bắc và Nam Việt Nam có khác biệt một ngày về khởi đầu của năm âm lịch. Chính vì vậy, một số tỉnh miền Trung tiến hành tấn công sớm hơn một ngày, đây là một phần nguyên nhân làm mất đi tính chất bất ngờ của cuộc tấn công chính.[56] Thêm vào đó, nhiều tổng hành dinh nhận được thông báo về ngày giờ cuộc tấn công quá muộn thành thử không thể điều lực lượng đúng lúc để tấn công theo đúng kế hoạch.[57]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Âm mưu hay trùng hợp?&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối tháng Bảy năm 1967, ngay tiếp theo sau sau phiên họp Bộ Chính trị căng thẳng khi ý tưởng mới về cuộc tấn công 1968 của Lê Duẩn-Văn Tiến Dũng được đem ra bàn luận, đợt đầu tiên trong nhiều đợt bắt các nhóm những người bị gọi là chống đảng được thực hiện tại Hà Nội. “Nhóm chống đảng” được cho là nằm dưới sự cầm đầu của Hoàng Minh Chính, trước đây là viện trưởng Viện Triết học Marx-Lenin, và bị nghi ngờ là âm mưu chống đảng và cung cấp thông tin cho một thế lực nước ngoài không được nêu tên. Một đợt bắt bớ thứ hai những kẻ bị coi là đồng mưu được tiến hành có tường thuật vào ngày 18 tháng Mười, hai ngày trước khi diễn ra cuộc họp thứ hai của Bộ Chính trị bàn về kế hoạch cuộc tấn công 1968, và đợt bắt bớ thứ ba được tiến hành vào tháng Mười hai năm 1967, đồng thời với cuộc họp của Bộ Chính trị với mục đích thông qua kế hoạch.[58]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Vụ án Chống Đảng” có nguồn gốc từ xung đột Trung Quốc-Liên Xô hồi đầu những năm 1960. Cuối năm 1963, tiếp theo những thảo luận mở rộng và tranh cãi nội bộ, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, dưới sự lãnh đạo của tổng bí thư Lê Duẩn, đã thông qua một nghị quyết chống lại “xét lại hiện đại”, một thuật ngữ được người Trung Quốc dùng để miêu tả các chính sách của lãnh tụ Liên Xô Nikita Khrushchev về “cùng tồn tại hòa bình” và tránh đối đầu quân sự trực tiếp với phương Tây.[59] Nghị quyết này và một nghị quyết đi kèm kêu gọi một nỗ lực quân sự một mất một còn để đánh bại chế độ Ngô Đình Diệm tại Việt Nam Cộng hòa chính là nguồn cơn cho sự chia rẽ bên trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều cán bộ cao cấp, trong đó có Hoàng Minh Chính, khi ấy là viện trưởng Viện Triết học Marx-Lenin, và thượng tướng Đặng Kim Giang, bị giáng chức hoặc mất chức, như là hậu quả của việc họ phản đối các nghị quyết đó, những nghị quyết đã đặt người cộng sản Việt Nam (ít nhất là trong thời điểm này) hẳn về phe Trung Quốc trong cuộc xung đột Nga-Trung đang mở rộng. Sự phản đối trước các nghị quyết mạnh mẽ đến mức một số cán bộ cao cấp Việt Nam đã trốn sang Liên Xô.[60]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những rạn nứt nội bộ của đảng thể hiện qua các tranh luận tại Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục dai dẳng. Các rạn nứt nghiêm trọng đến mức vào tháng Mười hai năm 1965, tổng bí thư Lê Duẩn buộc phải nói tới chúng trong một bài diễn văn tại Hội nghị lần thứ mười hai Ban Chấp hành Trung ương. Trong bài diễn văn này Lê Duẩn công nhận: “Từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 về các vấn đề quốc tế, Trung ương Đảng ta vẫn giữ vững và làm đúng đường lối đã đề ra. Nhưng sở dĩ có một số đồng chí hiểu lầm rằng hình như đường lối của Đảng ta đã thay đổi là vì các đồng chí ấy không hiểu đúng tinh thần cơ bản của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 của Trung ương, do sự phổ biến nghị quyết ở một số nơi không được đầy đủ và nghiêm túc.”[61] Lê Duẩn tiếp tục bằng cách tuyên bố sẽ là sai lầm nếu nghĩ nghị quyết của Hội nghị lần thứ 9 cho thấy đảng đã chọn phe trong cuộc tranh cãi Trung Quốc-Liên Xô. Ông cho biết “đường lối của Đảng ta khác về chiến lược với đường lối của Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc.”[62]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một cuốn sách chính thức của Công an Việt Nam xuất bản vào cuối những năm 1970 công nhận rằng chế độ coi sự phản đối trước nghị quyết “chống xét lại” năm 1963 của Trung ương Đảng Cộng sản là một mối đe dọa về an ninh và cho biết sự phản đối này đã trực tiếp dẫn tới các sự kiện của Vụ Chống Đảng năm 1967:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Bè lũ xét lại hiện đại tìm cách tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lê nin. Một số phần tử trong nước ta đã sao chép các luận điểm của chúng, sử dụng các khái niệm xét lại để tuyên truyền chống lại các chính sách của đảng ta. Bọn họ đã vứt bỏ nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào năm 1963, đường lối cơ bản của nghị quyết là phê phán và phủ nhận chủ nghĩa xét lại hiện đại. Mặc dù các hoạt động của bè lũ này không gây ra tổn thất nghiêm trọng, chủ nghĩa xét lại đã bắt đầu gây ảnh hưởng tới hàng ngũ cán bộ tại một số cơ quan chính quyền, đặc biệt là trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, khoa học, và luật pháp. Cần ghi nhận rằng bè lũ này đã tập hợp các cá nhân bất mãn, ghen tị và đồi trụy bên trong đảng để lập ra một “tổ chức chính trị phản động để làm một tổ chức ngụy cho người nước ngoài.”[63]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một chú thích cho đoạn trên nói, “Vụ Chống Đảng đã được giật dây bởi các phần tử chịu ảnh hưởng của ý thức hệ xét lại và do Hoàng Minh Chính cầm đầu.”[64]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một số cá nhân bị bắt trong đợt bắt bớ năm 1967 là sĩ quan cao cấp của quân đội, gồm cả thượng tướng Đặng Kim Giang, người vào quãng thời gian ấy đã bị điều sang Bộ Nông nghiệp, Thứ trưởng và Phó Tổng Tham mưu trưởng thượng tướng Nguyễn Văn Vĩnh, và cục trưởng Cục Quân báo của Bộ Tổng Tham mưu, đại tá Lê Trọng Nghĩa. Hai trong số những sĩ quan ấy, thượng tướng Nguyễn Văn Vĩnh và đại tá Lê Trọng Nghĩa, từng có dính líu rất sâu vào công việc chuẩn bị các kế hoạch cuộc tấn công của Bộ Tổng Tham mưu, và cả hai đều tham gia trong các báo cáo cho Bộ Chính trị trong cuộc thảo luận về kế hoạch vào tháng Mười.[65] Nhiều sĩ quan trong số đó rõ ràng là có liên hệ mật thiết với tướng Võ Nguyên Giáp, và một số người bị bắt tuyên bố rằng các sĩ quan an ninh thẩm vấn họ đã tìm kiếm sự liên kết giữa vị tướng họ Võ và âm mưu Chống Đảng.[66] Trong hồi ký của mình, tướng Cao Phá, Phó Cục trưởng Cục Quân báo cho tới 1968, công nhận ông đã bị rối trí trước việc đảng bắt đầu “sắp xếp lại các cấp bậc sĩ quan của… Bộ Chỉ huy Tối cao” vào quãng thời gian diễn ra Cuộc Tấn công Tết.[67] Vì “Chỉ huy Tối cao” là tên chính thức của bộ tổng hành dinh Võ Nguyên Giáp, lời bình luận này dường như đã xác nhận rằng quả thực đã từng có một nhóm sĩ quan làm việc chung với tướng Võ Nguyên Giáp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thông tin về vụ việc tuyệt mật này vẫn quá sơ sài, không đủ để rút ra được kết luận cuối cùng nào về sự thật của những liên kết nước ngoài như cáo buộc, nhưng các tài liệu do Ilya Gaiduk phát hiện tại lưu trữ chính thức của Liên Xô trước đây cho thấy trong quãng thời gian này các nhân viên Đại sứ quán Liên Xô tại Hà Nội, có khả năng là có cả một số sĩ quan tình báo, quả thực đã liên lạc với một nhóm “chống đối” nhỏ gồm các nhân vật chính trị Bắc Việt từng bị cắt chức từ nhiều năm trước đó. Những người ly khai này đã yêu cầu người Liên Xô giúp đỡ nhằm làm giảm tầm ảnh hưởng của Trung Quốc trong các quyết định về chính sách tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[68] Miêu tả của nhóm này có vẻ rất khớp với Hoàng Minh Chính và các bạn của ông. Những liên hệ với người Liên Xô có vẻ đã là quá đủ để biện minh cho các cuộc bắt bớ và tra hỏi, và một khi một “mối nguy về gián điệp” và khe hở về an ninh đã lộ diện, một đợt bắt bố lớn gần như là không thể tránh khỏi, đặc biệt là tại một nhà nước cảnh sát như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi còn chưa thể tiếp cận tài liệu lưu trữ của Đảng Cộng sản và An ninh Việt Nam, không thể nào xác định tuyệt đối liệu việc lên kế hoạch các vụ bắt bớ có liên quan tới những suy tư của Bộ Chính trị về kế hoạch Tấn công Tết hay không, và liệu Võ Nguyên Giáp có quả thực là một trong các mục tiêu của cuộc điều tra hay không. Tuy nhiên, có vẻ như là khi quyết định về thực hiện Tấn công Tết được đưa ra, một cuộc tấn công hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố bất ngờ, một mệnh lệnh đã được ban xuống ở mức độ cao nhất, “thắt chặt an ninh”. Ban đầu mệnh lệnh này có thể không hướng tới các mục tiêu cụ thể, nhưng chắc chắn là các lực lượng an ninh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã diễn giải nó như là một mệnh lệnh nhằm, nói như những lời bất hủ của Claude Raines trong bộ phim Casablanca, “Tóm hết những kẻ tình nghi!”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy cơ quan an ninh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thoạt đầu có thể chỉ làm một việc là kiểm soát một cách thụ động các đường dây liên kết với cán bộ Liên Xô của nhóm Hoàng Minh Chính, nhưng giờ đây đã rõ ràng rằng các thành viên của nhóm bị bắt là để loại trừ mọi khả năng bí mật về cuộc Tấn công Tết sắp diễn ra bị lọt ra bên ngoài. Sau đợt bắt bớ đầu tiên, bất kỳ ai có liên hệ thậm chí là vô hại nhất với những người âm mưu kia, bất kỳ ai từng biểu hiện bất kỳ sự dè dặt nào đối với Nghị quyết 9 của Trung ương Đảng, và bất kỳ ai có tì vết dù là nhỏ nhất trong lý lịch hoặc xuất thân gia đình đều phải đối mặt với các điều tra viên hăng hái đáp ứng yêu cầu của thượng cấp trong việc tìm ra những “mối đe dọa an ninh” tiềm ẩn. Có bằng chứng cho thấy rằng quả thực điều này đã xảy ra. Chẳng hạn, theo một hồi ký viết bởi một sĩ quan cao cấp của tình báo và an ninh cộng sản Việt Nam, sự suy sụp của tướng Nguyễn Văn Vĩnh chính là kết quả của những nghi ngờ không có căn cứ theo đó con trai của vị tướng có liên hệ với tình báo Pháp. Phải mười năm sau, ngay trước khi qua đời, tướng Nguyễn Văn Vĩnh rốt cuộc mới minh oan được cho mình.[69] Mặt khác, việc liệu các nghi ngờ về con trai vị tướng có được sử dụng để chống lại ông bởi ông có quan hệ mật thiết với tướng Võ Nguyên Giáp (Nguyễn Văn Vĩnh là thứ trưởng quốc phòng và đã làm việc rất gần gũi với tướng Võ Nguyên Giáp) hoàn toàn là một vấn đề khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc dù không có bằng chứng chính xác nào cho thấy các vụ bắt bớ là cố tình nhắm vào tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng minh của ông, thì cũng rõ ràng rằng quả thực chúng đã gây tổn hại tới vị tướng, cả về mặt nghề nghiệp lẫn mặt cá nhân. Năm 2004, trong một cuộc phỏng vấn với phóng viên một tờ báo Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 50 năm Điện Biên Phủ sụp đổ, Võ Nguyên Giáp đã nhờ người phóng viên gọi điện cho một thuộc cấp trung thành của ông, một người mà vị tướng nói đã rất gần gũi với ông từ trận Điện Biên Phủ cho tới ngay trước cuộc Tấn công Tết nhưng vị tướng nói là chỉ biết ông ta “tách rời” khỏi ông vì những lý do “bất khả kháng” (tác giả nhấn mạnh). Võ Nguyên Giáp yêu cầu người phóng viên nói với người thuộc cấp trước kia là trong cuộc phỏng vấn này vị tướng đã không “quên” nhắc tới đóng góp của người thuộc cấp trong chiến thắng Điện Biên Phủ. Người thuộc cấp ngày xưa là người phụ trách bộ phận tình báo tại Điện Biên Phủ, đại tá Lê Trọng Nghĩa, người từng là một trong các nạn nhân của đợt bắt bớ năm 1967.[70] Hành động này không chỉ cho thấy Võ Nguyên Giáp vẫn còn một số tình cảm đối với đại tá Lê Trọng Nghĩa và tin Lê Trọng Nghĩa đã bị đối xử bất công, mà còn cho thấy vị tướng vẫn không thể trực tiếp liên lạc với Lê Trọng Nghĩa, vì các lý do chính trị.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Kết luận&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Sau khi từ Đông Âu trở về tiếp sau khi cuộc Tấn công Tết Mậu Thân đã bắt đầu, Võ Nguyên Giáp quay lại giữ chức tổng tư lệnh tối cao của Các Lực lượng Vũ trang và bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nơi ông chỉ đạo đợt Tấn công Tết thứ hai và thứ ba. Tướng Võ Nguyên Giáp vẫn giữ các cương vị lãnh đạo trong Bộ Chính trị và các lực lượng vũ trang cho tới khi chiến tranh kết thúc năm 1975, và ông đóng một vai trò quan trọng trong việc lên kế hoạch và tiến hành cuộc tấn công cuối cùng của cộng sản dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa và chiếm được Sài Gòn tháng Tư năm 1975.[71] Rõ ràng là quyền lực của ông bị giảm sút, nhưng ông vẫn là người lính trung thành và “giữ đoàn kết” với các nhân vật còn lại của ban lãnh đạo đảng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bốn mươi năm sau cuộc Tấn công Tết, giờ đây chúng ta vẫn chưa có được kết luận về việc liệu quyết định của Lê Duẩn và Văn Tiến Dũng tung một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa một mất một còn ngay lập tức là đúng, hay liệu Võ Nguyên Giáp đã đúng khi phản đối quyết định ấy. Tôi tin rằng đây là một việc tế nhị và câu chuyện quá phức tạp, với quá nhiều biến số được đưa vào, nên không thể nói dù là ở mức độ chắc chắn như thế nào về việc một tình huống cụ thể có thể xảy ra như thế nào nếu lựa chọn một con đường khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, lợi thế về thời điểm cũng cho phép chúng ta có được một số kết luận về cuộc Tấn công Tết. Nhận định tình hình của cộng sản theo đó chiến lược Tấn công Tết đã sinh ra rõ ràng là không chính xác ở nhiều khía cạnh: Nhận định đó đã đánh giá quá cao số lượng thương vong mà các lực lượng cộng sản gây ra cho Mỹ và các đồng minh; nó đã đánh giá quá cao sự ủng hộ mà lý tưởng cộng sản nhận được trong dân chúng miền Nam; và nó đã đánh giá thấp đến nực cười sức mạnh và khả năng của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, quả thực người cộng sản đã làm đúng được nhiều điều quan trọng: Họ đã kết luận một cách đúng đắn rằng mức độ sẵn sàng can dự của Mỹ vào Chiến tranh Việt Nam là một điểm yếu chính có thể khai thác trong nỗ lực chiến tranh liên minh ở miền Nam; nhận định của họ cho rằng mùa chiến dịch bầu cử tổng thống Mỹ năm 1968 sẽ là giai đoạn trọng yếu trong việc xác định con đường tương lai của chiến tranh Việt Nam từ phía Mỹ là vô cùng chính xác; và kết luận của họ rằng chỉ thông qua việc sử dụng các biện pháp đặc biệt họ mới có thể khai thác thời điểm của “điểm bùng phát” này nhằm biến chuyển tình thế có lợi cho họ, xét cho cùng, cũng là đúng. Chiến lược “các trận đánh lớn” đã từng có khả năng gây tổn thất cho các lực lượng Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa, nhưng Văn Tiến Dũng đã tuyệt đối đúng khi ông kết luận rằng các lực lượng cộng sản chỉ đơn giản là không đủ khả năng dùng các trận đánh lớn để tạo ra được các tổn thất hàng loạt lên kẻ thù mà quyết định của Bộ Chính trị về tìm kiếm một “chiến thắng nhanh chóng” đòi hỏi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rốt cuộc, với tất cả những thất bại của cuộc Tấn công Tết Mậu Thân của cộng sản, ở số lượng rất nhiều, có một điều lộ ra: cuộc Tấn công Tết đã thuyết phục cử tri Mỹ và vị lãnh đạo người Mỹ, tổng thống Johnson, rằng không thể giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh và đã đến lúc bắt đầu đàm phán tìm ra một giải pháp và người Mỹ phải rút đi. Đây là một thời điểm bước ngoặt trong cuộc chiến, một thời điểm kể từ đó không có đường lùi nữa. Ý tưởng của Lê Duẩn-Văn Tiến Dũng đã hoàn thành một trong những mục tiêu được đề ra: “đè bẹp ý chí xâm lược [của kẻ thù]… nó phải đi đến ngồi với ta, thương lượng với ta.”[72] Trong khảo luận về binh pháp của mình, chiến lược gia quân sự Trung Quốc cổ đại Tôn Tử viết: “Phàm việc tác chiến, dùng chính binh đối địch, kỳ binh thủ thắng.”.[73]&lt;br /&gt;Tôn Tử cũng viết: “Nước lũ chảy xiết cuốn trôi cả đá gạch, đó là nhờ thế nước lũ. Chim ưng vồ mồi chỉ một cú có thể xé nát con mồi, đó là dựa vào thế tiết nhanh như chớp nhoáng.”[74]. Trong quyết định tung cuộc Tổng tiến công Tết, người cộng sản đã làm theo lời chỉ dạy của Tôn Tử. Họ đã sử dụng sự “biến hóa”, và “thế tiết” của họ là hoàn hảo.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;Merle L. Pribbenow II&lt;/strong&gt; là cựu sĩ quan tác chiến CIA và chuyên gia tiếng Việt, về hưu vào năm 1995. Một phần tiểu luận này được trình bày tại Sixth Triennial Vietnam Symposium, Vietnam Center, Texas Tech University, tháng Ba năm 2008. Tác giả muốn bày tỏ lòng biết ơn với giáo sư A. J. Langguth và Annenberg Institute for Justice and Journalism của Đại học Southern California vì đã tài trợ cho chuyến đi của tác giả tới Hà Nội mùa hè năm 2007 để thực hiện các cuộc phỏng vấn tại chỗ, một trong số những cuộc phỏng vấn đó đã làm nảy ra ý tưởng về bài viết này. Tác giả cũng muốn cám ơn một người bạn không nêu tên, người đã, nhiều năm trước đây, giảng qua cho tác giả về cách tiến hành công việc nội bộ của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Ghi chú của người dịch&lt;/strong&gt;: Một số trích dẫn của tác giả do nằm ở các trang web trên Internet không còn hoạt động hoặc ở những cuốn sách rất khó tìm nên được dịch sát nghĩa chứ chưa được truy nguyên; cách gọi “Đảng Cộng sản” được thống nhất trong bài, mặc dù tên chính thức hồi đó là Đảng Lao động Việt Nam; cách viết tên riêng người Việt Nam của tác giả được giữ nguyên, kể cả các trường hợp như “Hồ Kháng” hoặc “Cao Phá”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Nguồn: Journal of Vietnamese Studies, Volume 3, Number 2, Summer 2008&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Bản tiếng Việt © 2010 talawas&lt;br /&gt;--------------------------------------------------------------------------------&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[1] Stanley Karnow, tướng Phillip Davidson, và một người viết tiểu sử Võ Nguyên Giáp cho rằng tướng Võ Nguyên Giáp là đạo diễn của cuộc Tấn công Tết. Xem Karnow, Vietnam: A History (New York: Penguin Books, 1987), 548-549; Davidson, Vietnam at War: The History 1946-1975 (New York: Oxford University Press, 1988), 441-446; và Peter Macdonald, Giap: The Victor in Vietnam (New York: W.W. Norton &amp;amp; Company, 1993), 262-263. Những người khác viết tiểu sử Võ Nguyên Giáp lại nhận định tướng Nguyễn Chí Thanh là người đầu tiên đưa ra kế hoạch Tấn công Tết, lúc đầu tướng Võ Nguyên Giáp phản đối ý tưởng này nhưng đã đồng ý khi Bộ Chính trị bỏ phiếu thông qua kế hoạch. Xem Cecil B. Currey, Victory at Any Cost: The Genius of Vietnam’s Gen. Vo Nguyen Giap (Virginia: Potomac Books, 2005), 261-265; và A. J. Langguth, Our Vietnam: The War 1954-1975 (New York: Simon &amp;amp; Schuster, 2000), 439-440. Lien Hang T. Nguyen viết về các tranh cãi về ý hệ trong “The War Politburo: North Vietnam’s Diplomatic and Political Road to the Tết Offensive,” Journal of Vietnamese Studies 1, số 1-2 (2006): 4-58. Sophie Quinn-Judge cũng có cùng chủ đề trong “The Ideological Debate in the DRV and the Significance of the Anti-Party Affair, 1967-1968,” Cold War History 5, số 4 (11/2006): 479-500. Tiến trình phát triển của kế hoạch Tấn công Tết Mậu Thân cũng tiếp tục là chủ đề trao đổi và tranh luận của các sử gia Việt Nam. Xem đại tá Hồ Kháng, “Mục tiêu chiến lược của đòn Tết Mậu Thân 1968,” Nhân Dân, 21/1/2008, www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=37&amp;amp;sub=130&amp;amp;article=114233 (truy cập 21/1/2008); và đại tá Trần Trọng Trung, phần đầu của bài báo “Kế hoạch tổng tiến công chiến lược xuân 1968 ra đời như thế nào?”, Quân Đội Nhân Dân, 9/1/2008, www.qdnd.vn/qdnd/baongay.quocphongnghethuatquansu.27876.qdnd (truy cập 17/1/2008).&lt;br /&gt;[2] “Nghị quyết của hội nghị lần thứ chín, Ban Chấp hành Trung ương Đảng”, in trong Văn kiện đảng toàn tập, Tập 24, 1963, bs. Trần Tình (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2003), 822. Cũng xem “The Political Bureau’s Resolution on South Vietnam, November 1963,” bản dịch một tài liệu Việt Cộng do quân lực Mỹ thu được vào 29/4/1969, số hiệu 2320109002, bộ sưu tập Douglas Pike, Unit 6, Virtual Archive,&lt;br /&gt;The Vietnam Center and Archive, Texas Tech University, www.virtualarchive.vietnam.ttu.edu/starweb/virtual/vva/servlet.starweb?path=virtual/vva/virtual.web. Rõ ràng nghị quyết Bộ Chính trị này là tiền thân của Nghị quyết 9 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.&lt;br /&gt;[3] Trần Tình, bs., Văn kiện đảng 1963, 839.&lt;br /&gt;[4] Sđd., 840.&lt;br /&gt;[5] Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Victory in Vietnam: The Official History of the People’s Army of Vietnam, 1954-1975 (Lawrence: University Press of Kansas, 2002), 137-138.&lt;br /&gt;[6] Hồ Sơn Đài và Trần Phán Chấn, Lịch sử Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định kháng chiến (1945-1975) (TP. Hồ Chí Minh, 1994), 391, 393.&lt;br /&gt;[7] Lê Duẩn, Thư vào Nam (Hà Nội: Sự Thật, 1986), 79.&lt;br /&gt;[8] Sđd., 88.&lt;br /&gt;[9] Sđd., 90-91.&lt;br /&gt;[10] Sđd., 95.&lt;br /&gt;[11] Sđd., 115.&lt;br /&gt;[12] Cục Tác chiến thuộc Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000 (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2005), www.quansuvn.net/index.php?topic=82.105 (truy cập 20/12/2007). Theo phần 7 của cuốn sách này (www.quansuvn.net/index.php?topic=82.90), các thành viên của tiểu ban Bộ Chính trị trong khoảng giữa những năm 1960 là Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng, và Phạm Hùng (tiếp theo sự bổ nhiệm tướng Nguyễn Chí Thanh vào tổng hành dinh Trung ương Cục miền Nam ở miền Nam).&lt;br /&gt;[13] Đại tá Trần Trọng Trung, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2006), 34 (tác giả nhấn mạnh).&lt;br /&gt;[14] Đại tá Trần Trọng Trung, phỏng vấn với tác giả, 19/6/2007, Hà Nội.&lt;br /&gt;[15] Để có một phân tích tuyệt vời về xung đột bên trong Bộ Chính trị, xem Nguyễn, “The War Politburo”.&lt;br /&gt;[16] William J. Duiker, Ho Chi Minh: A Life (New York: Hyperion, 2000), 484-485.&lt;br /&gt;[17] Sđd., 503.&lt;br /&gt;[18] Hoàng Tùng, “Nghị quyết T.Ư. về giải phóng miền Nam ra đời thế nào?”, Tien Phong Online, 29/4/2007, www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=82719&amp;amp;ChannelID=2 (truy cập 4/5/2007).&lt;br /&gt;[19] Trịnh Nhu, bs., Lịch sử biên niên xứ ủy Nam Bộ và Trung ương cục miền Nam (1954-1975) (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2002), 140.&lt;br /&gt;[20] Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000 (xem chú thích số 12).&lt;br /&gt;[21] Sđd.&lt;br /&gt;[22] Trần Tình, bs., Văn kiện đảng toàn tập Tập 28, 1967 (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2003), 112, 119-120.&lt;br /&gt;[23] Phạm Thị Vinh, bs., Văn kiện đảng toàn tập Tập 26, 1965 (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2003), 594-595.&lt;br /&gt;[24] Đại tá Hồ Kháng, “Mục tiêu chiến lược của đòn Tết Mậu Thân 1968” (xem chú thích số 1). Cũng xem Qiang Zhai, Beijing and the Vietnam Peace Talks, 1965-1968: New Evidence from Chinese Sources (Washington, DC: Cold War History International Project, Woodrow Wilson Center, 1997), 19-22.&lt;br /&gt;[25] Trần Tình, bs., Văn kiện đảng 1967, 125.&lt;br /&gt;[26] Sđd., 147.&lt;br /&gt;[27] Sđd., 153-154.&lt;br /&gt;[28] Có thể xem tóm tắt về những tranh luận giữa Nguyễn Chí Thanh và Võ Nguyên Giáp trên báo chí trong tướng Phillip Davidson, Vietnam at War, 418-422, và Nguyễn, “The War Politburo,” 22.&lt;br /&gt;[29] Tướng William Westmoreland, A Soldier Reports (New York: Dell Publishing, 1980), 298-299.&lt;br /&gt;[30] Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000, phần 8.&lt;br /&gt;[31] Sđd.&lt;br /&gt;[32] Tướng Văn Tiến Dũng, trích từ “Tạo một bước ngoặt trong kháng chiến chống Mỹ,” Quân Đội Nhân Dân, 3/12/2004, www.quandoinhandan.org.vn/sknc/?id=1108&amp;amp;subject=7, (truy cập 2/1/2005), hiện nay có ở http://202.151.160.173/webqdndcu/sknc/?id=1587&amp;amp;subject=8. Trong bài báo này Văn Tiến Dũng cho biết các mục tiêu của kế hoạch ban đầu của Bộ Tổng Tham mưu là tiêu diệt từ ba đến năm lữ đoàn lĩnh Mỹ và từ ba đến năm sư đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa, giải phóng từ tám đến mười triệu người, và “tăng cường” đấu tranh chính trị tại các khu vực thành thị.&lt;br /&gt;[33] Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000, phần 8.&lt;br /&gt;[34] Hồ Kháng, The Tet Mau Than 1968 Event in South Vietnam (Hà Nội: Thế Giới Publishers, 2001), 28-29.&lt;br /&gt;[35] Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000.&lt;br /&gt;[36] Tiến sĩ Nguyễn Thị Bảo, “Những ngày cuối cùng của anh Nguyễn Chí Thanh,” trong Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: Nhà chính trị quân sự lỗi lạc (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 1997), 350-360. Nhiều báo cáo từ cả nguồn Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, một số trong đó vẫn được các tác giả ngày nay sử dụng, theo đó Nguyễn Chí Thanh bị giết ở miền Nam bởi một cuộc ném bom rải thảm B-52 rõ ràng là đã nhầm lẫn. Phiên bản bên cộng sản về cái chết của ông mới đúng và rõ ràng là không hề bị bịa ra. Rõ ràng là người cộng sản Việt Nam thích được tuyên bố Nguyễn Chí Thanh qua đời như một anh hùng ở mặt trận, bị một cuộc thả bom dã man của Mỹ giết chết, hơn là chấp nhận cái chết tầm thường không lấy gì làm cao đẹp mà họ miêu tả – một cơn nhồi máu vì stress, làm việc quá sức, và ăn uống quá độ trong những bữa tiệc khi ông quay về nhà ở Hà Nội.&lt;br /&gt;[37] Tướng Chu Huy Mân và đại tá Lê Hải Triều, Thời sôi động (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2004), 463.&lt;br /&gt;[38] Currey, Victory at Any Cost, 231.&lt;br /&gt;[39] “Tạo một bước ngoặt trong kháng chiến chống Mỹ” (xem chú thích số 32). Mặc dù bài báo không cung cấp ngày tháng chính xác về cuộc gặp Văn Tiến Dũng-Lê Duẩn, bối cảnh và sự so sánh với thông tin từ các nguồn khác cho thấy cuộc gặp có khả năng đã diễn ra trong những ngày đầu tiên sau khi Nguyễn Chí Thanh chết. Một bài báo mới đây của Việt Nam có thể xem là đã chỉ ra rằng cuộc gặp diễn ra không lâu trước khi Nguyễn Chí Thanh chết, nhưng từ ngữ trong bài báo đó rất mơ hồ. Trong phần thứ ba của một bài báo mang tên “Kế hoạch tổng tiến công chiến lược xuân 1968 ra đời như thế nào (Quân Đội Nhân Dân, 11/1/2008, xem chú thích số 1), đại tá Trần Trọng Trung viết rằng một cuộc gặp giữa Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã được tiến hành vào ngày 30 tháng Sáu và 1 tháng Bảy năm 1967, nó được “quyết định đưa cuộc cách mạng miền Nam tiến về phía trước tới một bước phát triển mới. Cuộc hội nghị này khẳng định khả năng giành một thắng lợi mang tính quyết định thông qua một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa. Cơ hội lớn nhất là Đông-Xuân 1967-1968, Hè 1968, hoặc sớm hơn.” Tuy nhiên, từ ngữ ở đây không rõ ràng và tương hợp với ý tưởng trong kế hoạch ban đầu của Bộ Tổng Tham mưu về một cuộc tấn công nhằm mục đích tạo ra điều kiện cần thiết cho việc tung ra một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa vào một thời điểm còn chưa biết trong tương lai, bên cạnh các mục đích khác. Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000, phần 8 cho biết vào ngày 20 tháng Sáu năm 1967, Quân ủy Trung ương thông qua một “giải pháp chiến lược”, nói, “Chúng ta cần thực hiện những cuộc tấn công mạnh mẽ, cả về quân sự và chính trị, vào các thành phố, thị trấn, và trung tâm chính trị nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền ngụy và tạo ra các cơ hội và điều kiện để tung ra một cuộc tổng tiến công và nổi dậy” (tác giả nhấn mạnh). Cuộc họp giữa Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ngày 30 tháng Sáu và 1 tháng Bảy năm 1967 có khả năng được tổ chức để xem xét và thông qua “giải pháp chiến lược” ngày 20 tháng Sáu của Quân ủy Trung ương, rõ ràng là vẫn phản ánh kế hoạch cũ trong việc “tạo điều kiện” để tung ra một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa chứ không phải là kế hoạch mới do Lê Duẩn và Văn Tiến Dũng nói tới trong cuộc họp. Tuy nhiên, một bài báo gần đây của một sử gia quân sự Việt Nam kỳ cựu, lại ủng hộ giả thuyết cho rằng ý tưởng chuyển sang một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa một mất một còn đối với các thành phố chỉ xuất hiện vào tháng Bảy năm 1967, sau khi Nguyễn Chí Thanh chết. Xem đại tá Hồ Kháng, “Mục tiêu chiến lược của đòn Tết Mậu Thân 1968” (xem chú thích số 1). Cân nhắc các dữ kiện, nhiều khả năng cuộc gặp Lê Duẩn-Văn Tiến Dũng đã diễn ra không lâu sau cái chết của Nguyễn Chí Thanh&lt;br /&gt;[40] “Tạo một bước ngoặt trong kháng chiến chống Mỹ” (xem chú thích số 32).&lt;br /&gt;[41] Để có một ý kiến ủng hộ việc ý tưởng của Văn Tiến Dũng theo đó ý tưởng chung về Cuộc Tấn công Tết Mậu Thân xuất phát từ một gợi ý của Lê Duẩn rồi được Văn Tiến Dũng phát triển, xem đại tá Nguyễn Văn Minh, bs., Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 1954-1975, Tập V: Tổng tiến công và nổi dậy 1968 (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2001), 30-31.&lt;br /&gt;[42] Xem H. R. McMaster, Dereliction of Duty: Lyndon Johnson, Robert McNamara, the Joint Chiefs of Staff, and the Lies that Led to Vietnam (New York: Harper Collins, 1997).&lt;br /&gt;[43] Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000 (tác giả nhấn mạnh). Trong phần thứ hai của bài báo mang tên “Kế hoạch tổng tiến công chiến lược ra đời như thế nào?” (xem chú thích số 1), đại tá Trần Trọng Trung cũng đưa ra cùng câu trích dẫn đó của Hồ Chí Minh nhưng lại nói rằng nó xuất hiện trong các thảo luận của Bộ Chính trị ngày 18 và 19 tháng Bảy năm 1966 (khác với ngày 18 và 19 tháng Bảy năm 1967 theo tài liệu của Cục Tác chiến). Xem xét kỹ các vấn đề, tôi tin rằng 18 và 19 tháng Bảy năm 1967 mới đúng, nhưng dù cho ngày tháng nào mới chính xác, câu trích dẫn rõ ràng đã cho thấy Hồ Chí Minh phản đối mọi kế hoạch liều lĩnh nhằm giành một chiến thắng nhanh chóng.&lt;br /&gt;[44] Đại tá Trần Trọng Trung, “Kế hoạch tổng tiến công chiến lược xuân 1968 ra đời như thế nào?” (xem chú thích số 20).&lt;br /&gt;[45] Đại tá Trần Trọng Trung, phỏng vấn với tác giả, 19/6/2007, Hà Nội. Cũng xem Lưu Đoàn Huỳnh, “The Perspective of a Vietnamese Witness,” trong The War That Never Ends: New Perspectives on the Vietnam War, David L. Anderson và John Ernst bs. (Lexington: University Press of Kentucky, 2007), 91-92.&lt;br /&gt;[46] Đại tá Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 29-32; Thượng tướng Trần Văn Quang bs., Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học (Lưu hành nội bộ) (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 1995), 68 và 314, các chú thích 27-28.&lt;br /&gt;[47] Hoàng Đan và Hưng Đạt, Chiến dịch tiến công đường số 9-Khe Sanh xuân hè 1968 (Lưu hành nội bộ) (Hà Nội: Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam, 1987), 14. Vẫn những mục tiêu cho Tết Mậu Thân ấy đối với chiến trường B5 được tìm thấy trong Kiều Tam Nguyên, bs., Chiến trường Trị-Thiên-Huế trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước toàn thắng (Huế: Thuận Hóa, 1985), 136.&lt;br /&gt;[48] Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 32.&lt;br /&gt;[49] Sophie Quinn-Judge, “The Ideological Debate in the DRV,” 482; đại tá Trần Trọng Trung, trong lần phỏng vấn với tác giả, 19 tháng Sáu năm 2007 tại Hà Nội. Theo tướng Cao Phá, tướng Võ Nguyên Giáp vẫn ở Hungary cho tới cuối tháng Mười hai năm 1967. Xem Những ký ức không bao giờ quên (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2006), 166. Theo tướng Philip Davidson, người ta không thấy tướng Võ Nguyên Giáp ở Hà Nội từ 2 tháng Chín năm 1967 cho tới 5 tháng Hai năm 1968. Xem Davidson, Vietnam at War (New York: Oxford University Press, 1988), 563.&lt;br /&gt;[50] Duiker, Hồ Chí Minh, 556.&lt;br /&gt;[51] Sđd., 557.&lt;br /&gt;[52] Đại tá Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 40.&lt;br /&gt;[53] Đào Trọng Cảnh, bs., Văn kiện đảng toàn tập, Tập 29, 1968 (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2004), 1, 32.&lt;br /&gt;[54] Lưu Đoàn Huỳnh, được trích dẫn trong Anderson và Ernst, The War That Never Ends, 92.&lt;br /&gt;[55] Thượng tướng Trần Văn Quang, Tổng kết cuộc kháng chiến, 314, chú thích 28.&lt;br /&gt;[56] Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến, phần 8; đại tá Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 74-75.&lt;br /&gt;[57] Tướng Huỳnh Công Thân và Nguyễn Hữu Nguyên, Ở chiến trường Long An: hồi ức (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 1994), 131-132; đại tá Trần Dương, bs., Lịch sử quân khu 6 (cực Nam Trung Bộ-Tây Nguyên) kháng chiến chống Mỹ, 1954-1975 (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 1995), 221.&lt;br /&gt;[58] Nguyễn, The War Politburo, 25-26; Quinn-Judge, “The Ideological Debate in the DRV,” 481-482. Cũng xem “Alleged Coup d’Etat Plot in Hanoi: 1967,” trích dịch từ cuốn sổ tay lính cộng sản bị quân đội Mỹ thu được vào năm 1970, số hiệu 2320120032, Douglas Pike Collection, Unit 06, Virtual Archive, The Vietnam Center and Archive, Texas Tech University, www.virtualarchive.vietnam.ttu.edu/starweb/virtual/vva/servlet.starweb?path=virtual/vva/virtual.web (truy cập 10/1/2008). Để biết một trong số rất ít dẫn chiếu tới các vụ bắt bớ năm 1967 trong các ấn phẩm công khai của cộng sản Việt Nam, xem “Hoàng Minh Chính: ông là ai?”, Hà Nội Mới, 20/10/2005, http://www/hanoimoi.com.vn/41/62857 (truy cập 11/7/2007).&lt;br /&gt;[59] Xem “Nghị quyết của hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của đảng ta, tháng 12 1963”, Trần Tình, bs., Văn kiện đảng 1963, 716-800.&lt;br /&gt;[60] Nguyễn, “The War Politburo,” 15-19; Quinn-Judge, “The Ideological Debate in the DRV,” 483. Để có một dẫn chiếu ngắn tới sự phản đối của tướng Đặng Kim Giang trước nghị quyết 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, xem một bài diễn văn đọc năm 1969 của Bộ trưởng Nội vụ Trần Quốc Hoàn: “Kết luận của đồng chí Bộ trưởng về công tác sưu tra và xác minh hiểm nghi (1969)”, trong Một số vấn đề về đấu tranh chống phản cách mạng (Tối mật: chỉ lưu hành nội bộ ngành công an) (Hà Nội: Viện Nghiên Cứu Khoa Học Công An, 1975), 352.&lt;br /&gt;[61] Phạm Thị Vịnh, Văn kiện đảng 1965, 609.&lt;br /&gt;[62] Sđd., 610.&lt;br /&gt;[63] Viện Nghiên Cứu Khoa Học Công An, Công an nhân dân Tập II, 1954-1965 (Dự thảo: chỉ lưu hành nội bộ) (TP. Hồ Chí Minh: Viện Nghiên Cứu Khoa Học Công An, 1978), 206.&lt;br /&gt;[64] Sđd., 206.&lt;br /&gt;[65] Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 32. Theo Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến, phần 8, tướng Nguyễn Văn Vịnh tham gia các cuộc bàn luận lên kế hoạch về Tấn công Tết cho đến tận 11/11/1967, cho nên có vẻ như là ông chưa bị bắt cho tới đợt giam giữ/bắt bớ cuối cùng vào tháng Mười hai.&lt;br /&gt;[66] Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, chương 18, truy cập vào trang Đặc Trưng tại http://dactrung.net/truyen/noidung.aspx?BaiID=8AyT%2feTR1%2fFqSJaT6QufqQ%3d%3d (truy cập 15/12/2007); đại tá Bùi Tín (dưới bút danh Thành Tín), Mặt thật: Hồi ký chính trị của Bùi Tín (Garden Grove, CA: Turpin Press, 1994), 189-190.&lt;br /&gt;[67] Tướng Cao Phá, Những ký ức không bao giờ quên (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2006), 140.&lt;br /&gt;[68] Ilya V. Gaiduk, The Soviet Union and the Vietnam War (Chicago: Ivan R. Dee Publishers, 1996), 67-68.&lt;br /&gt;[69] Trần Quốc Hương và Nguyễn Thị Ngọc Hải, Trần Quốc Hương: Người thầy của những nhà tình báo huyền thoại (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2004), 200; tướng Trần Văn Trà, Những chặng đường lịch sử của B2 Thành Đồng, Tập I: Hòa bình hay chiến tranh (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 1992), 36.&lt;br /&gt;[70] Dương Trung Quốc, “Đại tướng Võ Nguyên Giáp, 7/5/2004,” Vietnam Net, 8/5/2004, www.vnn.vn/thuhanoi/2004/05/108102/ (truy cập 22/12/2007).&lt;br /&gt;[71] Xem Merle Pribbenow, “North Vietnam’s Final Offensive,” Parameters 29, số 4 (mùa xuân 1999-2000): 60.&lt;br /&gt;[72] Bản gỡ băng diễn văn của Lê Duẩn tại Hội nghị mười bốn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong Văn kiện đảng 1968, Đào Trọng Cảnh bs. (xem chú thích số 53), 23.&lt;br /&gt;[73] Nhóm dịch Denma, The Art of War: A New Translation (Boston: Shambhala Publishing, 2001), 16.&lt;br /&gt;[74] Samuel B. Griffith, d., Tôn Tử: Binh pháp (New York: Oxford University Press, 1963), 92.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6386160990305421427-8190917495492901214?l=danhnhanviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/feeds/8190917495492901214/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6386160990305421427&amp;postID=8190917495492901214' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/8190917495492901214'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/8190917495492901214'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/2010/05/oc-lai-va-suy-ngam-ve-tet-mau-than-1968.html' title='Đọc và suy ngẫm Tết Mậu Thân 1968'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6386160990305421427.post-2439723090797888319</id><published>2010-05-02T21:39:00.001+07:00</published><updated>2010-05-02T21:42:48.624+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Đọc lại và suy ngẫm'/><title type='text'>Đọc lại và suy ngẫm</title><content type='html'>&lt;strong&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;DANH NHÂN VIỆT. Merle L. Pribbenow, cựu nhân viên CIA về Đông Dương đã có một công trình nghiên cứu khá công phu về Tổng tiến công năm 1975. Đấu pháp chiến lược kết thúc chiến tranh có một không hai do Đoan Trang lược dịch và chú thích. Đây là một tài liệu quý cung cấp những thông tin và góc nhìn của một chuyên gia tình báo Mỹ về tầm vóc tư duy chiến lược và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đồng thời cũng làm rõ thêm về tương quan lực lượng, vai trò của Tổng hành dinh và tài năng chói sáng của đại tướng Võ Nguyên Giáp. &lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;strong&gt;ĐẤU PHÁP CHIẾN LƯỢC KẾT THÚC CHIẾN TRANH CÓ MỘT KHÔNG HAI&lt;/strong&gt;&amp;nbsp; &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Merle L. Pribenow, Cựu nhân viên CIA về Đông Dương&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;strong&gt;Đoan Trang lược dịch và chú thích&lt;/strong&gt; &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Vào mùa xuân năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam đối diện với vấn nạn thiếu đạn dược nghiêm trọng, trong khi Quân đội Việt Nam Cộng hòa của chính quyền Sài Gòn “không hề là hổ giấy”. Merle L. Pribbenow, cựu nhân viên CIA về Đông Dương, nhận định như vậy về tình hình hai bên trong một bài nghiên cứu chi tiết có tựa đề: “Tổng tiến công Mùa Xuân 1975: Đấu pháp chiến lược kết thúc chiến tranh có một không hai”. &lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Gần một phần tư thế kỷ trước, một đất nước thuộc thế giới thứ ba đã giành thắng lợi trong trận đánh cuối cùng của một cuộc chiến tranh gian khổ kéo dài, nhờ áp dụng một chiến lược tấn công hiện đại, dứt khoát và bất ngờ. Ngày nay, bài học rút ra từ chiến thắng này vẫn thật đáng nhớ, khi chúng ta đang sống trong một thời đại có khuynh hướng cậy vào công nghệ hơn là vào tư duy chiến lược và mặc định rằng các kỹ năng chiến lược của đối phương cũng lạc hậu như nền kinh tế, cấu trúc xã hội và nền tảng công nghệ của họ. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Vào ngày mồng 4 tháng 3 năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam (miền Bắc) tiến hành chiến dịch cuối cùng trong cuộc chiến 30 năm của họ bằng một loạt đợt tấn công vào các vị trí của miền Nam ở đèo Măng Giang, Tây Nguyên. Chiến dịch của họ - kết thúc thắng lợi hoàn toàn không đầy hai tháng sau đó - không giống như bất kỳ trận đánh nào trong lịch sử kéo dài của cuộc chiến tranh. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Khác biệt là ở chỗ, lần đầu tiên, nghệ thuật làm chiến dịch của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) không đặt cơ sở vào ý chí sẵn sàng hy sinh nhiều hơn đối thủ. Ngoài ra, họ cũng chỉ nhắc một cách chiếu lệ tới học thuyết cũ về một cuộc toàn dân nổi dậy. Thay vì tất cả những cái đó, chiến dịch của QĐNDVN dựa vào các kỹ năng đánh lừa, nghi binh (vu hồi), gây bất ngờ, tiếp cận gián tiếp , đánh lần lượt từng cụm căn cứ - nói tóm lại, một chiến dịch rất trí tuệ. QĐNDVN cuối cùng đã vươn tới một chiến dịch xứng tầm với một lực lượng quân đội chuyên nghiệp, hiện đại, thứ mà các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã nỗ lực rất lâu để xây dựng. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Nhiều sử gia vẫn cho rằng trong bối cảnh viện trợ quân sự của Mỹ cho miền Nam giảm toàn diện sau năm 1973, bất kỳ một cuộc tấn công lớn nào của cộng sản cũng sẽ thắng lợi. Tuy vậy, lực lượng đương đầu với QĐNDVN hồi đầu năm 1975 - Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) - không hề là hổ giấy. Khi QĐVNCH gặp phải những vấn đề nghiêm trọng về hậu cần và tinh thần chiến đấu, phần lớn lãnh đạo của họ kém năng lực, thì những người lính trong QĐVNCH, vốn dày dạn trận mạc, lại vẫn duy trì được một lượng đạn dược và trang thiết bị khổng lồ (như đã thể hiện qua số lượng cực lớn các phương tiện chiến tranh mà quân Bắc Việt thu được khi chiến tranh kết thúc). Cứ cho rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam là không thể tránh khỏi, nhưng kết cục có lẽ đã đẫm máu và kéo dài hơn nhiều nếu những người cộng sản chọn một kế hoạch tấn công khác, theo kiểu truyền thống hơn . Đòn tiêu diệt mạnh nhất của toàn bộ chiến dịch tổng tiến công thực ra chính là đòn tâm lý choáng váng mà chiến lược tài ba và đầy bất ngờ của họ đã nện vào tổng tư lệnh Việt Nam Cộng hòa.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Kế hoạch ban đầu&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Những hạt mầm của chiến dịch Tổng Tiến công 1975 của miền Bắc Việt Nam đã được gieo từ hai hội nghị quân sự cấp cao tổ chức tại Hà Nội vào tháng ba và tháng tư năm 1974 để đánh giá tình hình chiến sự. Hai hội nghị này đi đến kết luận rằng QĐNDVN đã giành lại được thế chủ động ở miền Nam, lần đầu tiên kể từ chiến dịch Quảng Trị 1972. Sau Hiệp định ngừng bắn ký tại Paris tháng giêng năm 1973, QĐNDVN đã mở rộng đáng kể tuyến đường huyết mạch chuyên chở hậu cần của họ tới miền Nam - Đường Hồ Chí Minh. Do con đường không còn chịu sự tấn công của không quân Mỹ, miền Bắc Việt Nam nay đã có thể vận chuyển khối lượng khổng lồ trang thiết bị và hàng tiếp tế vào Nam: chỉ riêng trong năm 1973, đã có 80.000 tấn hàng quân sự được cung cấp, trong đó có 27.000 tấn vũ khí, 6.000 tấn chế phẩm xăng dầu, và 40.000 tấn gạo. 100.000 quân nhân mới của QĐNDVN đã hành quân dọc Đường Hồ Chí Minh vào Nam trong suốt năm 1973, và 80.000 người khác lên đường Nam tiến trong nửa đầu năm 1974. Sức mạnh quân đội của QĐNDVN ở chiến trường miền Nam, vốn bị mất đi một phần trong chiến dịch Quảng Trị 1972, giờ đây ở mức hùng hậu nhất trong lịch sử cuộc chiến tranh: 400.000 lính chính quy. QĐNDVN đã có thể thấy ánh sáng cuối đường hầm. Vấn đề họ đang đối diện là làm thế nào để đi tới đoạn cuối đó.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Sau hai hội nghị tháng ba và tháng tư, vào tháng năm, Bộ Tổng Tham mưu ở Hà Nội hoàn thành dự thảo, “Đề cương sơ bộ về một kế hoạch giành chiến thắng trong chiến tranh ở miền Nam”. Nghiên cứu này được gửi tới Tổng Tư lệnh của QĐNDVN, đại tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp, để ông duyệt. Ngày 18-1-1974, sau khi đánh giá cẩn thận đề cương này, Tướng Giáp gọi người phó của ông, Tướng Hoàng Văn Thái, và ra lệnh chuẩn bị cho một kế hoạch chiến dịch chính thức nhằm vào việc giành thắng lợi hoàn toàn ở miền Nam muộn nhất trong năm 1976. Quan điểm chung của ông Giáp là một cuộc tấn công hai giai đoạn, bao gồm một đợt công kích lớn của quân chủ lực vào Tây Nguyên, sau đó là một cuộc tấn công dốc toàn lực nhằm vào lực lượng bảo vệ Sài Gòn. (Nhiều sử gia – những người khẳng định Tướng Giáp ít hoặc không đóng vai trò nào trong Tổng Tiến công 1975 - cho rằng tới lúc đó ông đã bị hạn chế đến mức chỉ còn vị thế bung xung, do sức khỏe kém và do thất bại của ông trong hai chiến dịch 1968 và 1972. Tuy nhiên, những tư liệu của chính quyền cộng sản lại mô tả Giáp với tư cách một người tham gia rất nhiều vào việc lập kế hoạch và chỉ huy tổng thể chiến dịch từ lúc hình thành ý tưởng cho tới thắng lợi cuối cùng). Ngày 26-8-1974, sau khi xem lại một số bản dự thảo trước đó, Bộ Tổng Tham mưu hoàn tất “Kế hoạch chiến lược 1975-76" và ban hành trong ban lãnh đạo cấp cao của Đảng cũng như chuyển cho các chỉ huy quân sự cấp cao để xin ý kiến. Kế hoạch hoàn chỉnh cuối cùng được trình các lãnh đạo Đảng duyệt tại một phiên họp kéo dài của Bộ Chính trị vào tháng 10 năm 1974.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Mặc dù QĐNDVN biết họ đã giành được thế chủ động chiến lược ở miền Nam Việt Nam, kế hoạch ban đầu của Bộ Tổng Tham mưu vẫn khá thận trọng, bởi họ vẫn đang phải đương đầu với một số vấn đề nghiêm trọng. Các nỗ lực của cộng sản nhằm xây dựng lại căn cứ du kích ở vùng nông thôn Việt Nam đã thất bại trên diện rộng, chỉ đạt 30% trong tổng số mục tiêu sức mạnh quân sự trong kế hoạch 1973-74 của các lực lượng vũ trang địa phương ở miền Nam. Thêm vào đó, cơ sở chính trị ở nội đô cũng rất yếu, và quan trọng nhất là, các lực lượng chính quy của QĐNDVN đối diện với tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng về vũ khí hạng nặng và đạn dược. Thêm nữa, mặc dù giới lãnh đạo của Bắc Việt tin rằng họ có một cửa cơ hội vài năm có một để giành chiến thắng trước khi Mỹ phục hồi trở lại sau những bê bối chính trị trong nước, QĐNDVN tin rằng họ vẫn phải cảnh giác với sự can thiệp có thể có từ nước ngoài. Trong các chỉ thị ban đầu của Tướng Giáp, có yêu cầu các lực lượng quân đội của miền Bắc phải chuẩn bị cho khả năng cuộc tổng tiến công có thể khiêu khích Mỹ ném bom trở lại vào miền Bắc hoặc thậm chí đổ bộ vào vịnh Bắc Bộ. Bộ Tổng Tham mưu quyết định rằng, xét các vấn đề này, QĐNDVN không thể đi tới một chiến dịch “tổng tấn công và nổi dậy toàn quốc” kiểu Tết Mậu Thân 1968, huy động lượng lớn du kích ở nông thôn và thành thị (mà họ không hề có), cũng như không có các nguồn lực để tiến hành một cuộc tấn công ồ ạt, trên toàn tuyến, theo kiểu truyền thống như chiến dịch Quảng Trị 1972.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Sự thiếu hụt về tăng thiết giáp và trọng pháo - điều kiện cần để tấn công vào các căn cứ ở cấp sư đoàn và trung đoàn vốn được trang bị rất đầy đủ của VNCH - đè nặng lên tâm trí những nhà hoạch định chiến lược của Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN, những người đã lập nên bản kế hoạch để trình Bộ Chính trị vào tháng 10 năm 1974. Sau này, người ta chủ yếu tìm hiểu xem tình trạng thiếu đạn trong quân đội VNCH tác động như thế nào đến sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam, mà không biết rằng chính QĐNDVN mới chịu thiếu hụt nghiêm trọng. Viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc, đặc biệt ở danh mục “vũ khí tấn công” (xe tăng và pháo), đã giảm đáng kể từ sau Hiệp định Paris 1973. Những thiệt hại lớn của QĐNDVN trong chiến dịch Quảng Trị 1972 càng làm trầm trọng thêm vấn nạn thiếu hụt do sự suy giảm viện trợ này gây ra. Ngoài ra, phần lớn xe tăng và pháo của QĐNDVN ở trong tình trạng rất tồi tệ, phụ tùng thì thiếu. Nhiều đơn vị pháo binh của QĐNDVN, nhất là ở miền Nam, vẫn chỉ được trang bị súng cối hạng nhẹ, súng trường không giật (DKZ), hoặc ống phóng hỏa tiễn vác vai (B40). &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Ở địa bàn hoạt động của Văn phòng Trung ương cục Miền Nam, tức là nửa phía nam của đất nước, bảy sư đoàn bộ binh (số 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9) và khung quân đoàn 4 chỉ được yểm trợ bởi năm tiểu đoàn pháo (hai trong số đó có trang bị pháo lấy được của Mỹ nhưng còn rất ít đạn) và ba tiểu đoàn tăng thiết giáp thiếu bộ đội. Khi Quân đoàn 2 của QĐNDVN chiếm Sài Gòn vào tháng 4 năm 1975, họ cũng chỉ có tổng cộng 89 xe tăng và thiết giáp chở quân, 87 cỗ pháo.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Tuy nhiên, vấn đề gay go nhất là nạn thiếu nghiêm trọng đạn cho xe tăng và trọng pháo (tức là pháo dã chiến và cối 85mm trở lên). Hồi chiến dịch Quảng Trị 1972, quân đội miền Bắc đã bắn hơn 220.000 viên đạn xe tăng và trọng pháo, trong đó 150.000 viên đã được sử dụng chỉ riêng tại mặt trận Quảng Trị. Cho đến năm 1974, toàn bộ kho đạn pháo và đạn tăng của QĐNDVN, bao gồm tất cả đạn dược của cả các đơn vị chiến đấu ở chiến trường lẫn của các kho dự trữ chiến lược, tổng cộng chỉ được 100.000 viên. Tình hình đạn dược nghiêm trọng tới mức các chỉ huy pháo binh phải thay pháo lớn ở một số đơn vị bằng các khẩu pháo đã lỗi thời 76,2mm và 57mm, lấy từ kho ra. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Vì những vấn đề này, Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN ban hành sắc lệnh rằng tất cả các vũ khí hạng nặng và đạn dược còn lại phải được sử dụng thật tiết kiệm, để dành cho một đòn quyết định, chỉ tiến hành khi trận cuối cùng diễn ra. Kế hoạch 1975-76 chỉ cho phép dùng hơn 10% kho đạn tăng-pháo còn lại của QĐNDVN trong cả chiến dịch 1975. 45% được phân phối cho chiến dịch 1976, phần còn lại để dự trữ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Ngày 26-8-1974, Bộ Tổng Tham mưu hoàn tất “Kế hoạch chiến lược 1975-1976”. Tháng 10-1974, Bộ Chính trị họp thông qua bản kế hoạch hoàn chỉnh. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Nếu theo đúng kế hoạch ban đầu của Bộ Tổng Tham mưu, cuộc tổng tiến công sẽ phải kéo dài hết năm 1975, sang năm 1976. Sở dĩ phải thận trọng như thế bởi QĐNDVN lúc đó đối diện với rất nhiều khó khăn mà nổi bật lên là vấn nạn thiếu đạn và nguy cơ can thiệp từ nước ngoài.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Vì các lý do trên, Bộ Tổng Tham mưu nhận định rằng không thể tiến hành một chiến dịch “tổng tấn công và nổi dậy toàn quốc” kiểu tết Mậu Thân 1968, huy động lượng lớn du kích ở nông thôn và thành thị (mà họ không hề có), cũng như không đủ lực để tiến hành một cuộc tấn công ồ ạt trên toàn tuyến theo kiểu chiến tranh quy ước như ở Quảng Trị hồi 1972.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;“Thời cơ chiến lược”&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Kế hoạch tháng 10 thận trọng song cũng rất đề cao yếu tố thời cơ. Mục tiêu tổng quát của kế hoạch là bằng bất cứ cách nào khả dĩ, tạo ra cái mà QĐNDVN gọi là “thời cơ chiến lược”. Thời cơ chiến lược này có thể là một cuộc binh biến ở Sài Gòn, một cuộc đảo chính dẫn tới sự sụp đổ của chính quyền Miền Nam Việt Nam, hoặc một chiến thắng quân sự quyết định của các đơn vị quân chủ lực QĐNDVN. Kế hoạch lệnh cho tất cả các lực lượng cộng sản hành động ngay lập tức và quyết liệt, bất cứ khi nào thời cơ chiến lược xuất hiện, để khai thác thời cơ ấy bằng cách tổ chức tấn công toàn diện, nhằm giành thắng lợi hoàn toàn trong thời gian ngắn nhất có thể trước khi các nước “có xu hướng can thiệp”, chủ yếu ám chỉ Mỹ và Trung Quốc, kịp phản ứng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Kế hoạch tấn công năm 1975 được chia thành ba giai đoạn và sẽ được tiếp nối vào năm 1976 bởi một cuộc “tổng tiến công và nổi dậy” để “giải phóng” hoàn toàn miền Nam. Giai đoạn đầu của kế hoạch 1975 là một cuộc tấn công có giới hạn trong địa bàn tác chiến của Văn phòng Trung ương Cục Miền Nam, kéo dài từ tháng 12 năm 1974 tới tháng 2 năm 1975. Giai đoạn hai, trung tâm của Tổng Tiến công 1975, sẽ bắt đầu từ tháng 3 năm 1975 với cuộc tấn công tầm cỡ quân đoàn vào tiền đồn gần biên giới Đức Lập trên Đường 14 tại phần cực phía nam của Tây Nguyên. Trận Đức Lập sẽ được hỗ trợ bởi các hoạt động phụ có tính chất nghi binh ở miền Đông Nam Bộ (toàn khu vực từ Sài Gòn tới rìa Tây Nguyên), vùng hạ du ở miền Trung Việt Nam, và khu vực Trị Thiên (phía bắc vùng hoạt động của Quân đoàn I VNCH). Giai đoạn ba, từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1975, kết hợp các cuộc tấn công truy đuổi ở phần phía bắc của miền Trung, củng cố lực lượng QĐNDVN trên phần còn lại của miền Nam, và chuẩn bị “kế hoạch bất ngờ” khi cần. Các mục tiêu kế hoạch cho năm 1975 là tiêu hao một phần đáng kể tổng lực của VNCH; làm thất bại chương trình “bình định”; mở rộng mạng lưới hậu cần tiếp tế của QĐNDVN xuống Đường 14 tới tận Đồng bằng Sông Cửu Long; chặt đứt đường liên lạc của đối phương; phá hoại nền kinh tế miền Nam Việt Nam; và kích động chống đối chính trị nhằm vào chính quyền miền Nam. Tất cả các mục tiêu khác nhau này đều hướng tới mục đích tối hậu: làm hao mòn sức kháng cự của miền Nam Việt Nam và tạo điều kiện cho sự xuất hiện “thời cơ chiến lược”.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Mặc dù Bộ Chính trị phê chuẩn kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu trong phiên họp tháng 10, nhưng họ không hoàn toàn thỏa mãn và quyết định gặp lần nữa vào tháng 12 để xem lại các bước tiến triển và duyệt lại kế hoạch nếu thấy cần thiết. Mọi sự cố xảy ra lúc này đều có thể làm thay đổi đáng kể kế hoạch của QĐNDVN. Tại phiên họp toàn thể hồi tháng 10, Bộ Chính trị đã nhận định rằng căn cứ tình hình nội bộ nước Mỹ (hậu quả chính trị của vụ Nixon từ chức), Mỹ sẽ không can thiệp trở lại vào cuộc chiến tranh một cách đáng kể. Điều này dẹp bỏ mối lo ngại chính yếu của các nhà hoạch định chiến lược miền Bắc, cho phép họ tự do cân nhắc khả năng tấn công mạnh hơn. Thêm vào đó, trong một cuộc giao tranh kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1974, Sư đoàn 304 của QĐNDVN đã phá được căn cứ Thượng Đức ở khu vực miền núi phía tây Đà Nẵng, và đánh bại một loạt cuộc phản công quyết liệt của hai sư đoàn VNCH - Sư đoàn số 3 và Sư đoàn Kỵ binh bay. Chiến thắng Thượng Đức thuyết phục các nhà lãnh đạo QĐNDVN rằng quân đội của họ giờ đây đã có thể đánh bại ngay cả những đạo quân tinh nhuệ nhất mà VNCH có thể xây dựng được.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Tuy nhiên, hai yếu tố tối hậu trong sự hình thành và phát triển chiến dịch cuối cùng của QĐNDVN, là hai điều mà các nhà hoạch định chiến lược ở bất kỳ nơi đâu đều cần đến: thời (thời cơ) và nhân (con người). Yếu tố con người trong trường hợp này là một vị tướng đầy tham vọng, Trần Văn Trà. Ông là tư lệnh quân đội của Trung ương Cục Miền Nam, một vị trí mà ông đã nắm giữ rồi thôi, rồi lại tiếp tục, suốt từ năm 1964 đến lúc đó. Tướng Trà bị nhiều ý kiến chê trách là người đã chịu trách nhiệm hoạch định cuộc tấn công thảm họa Tết Mậu Thân 1968 vào Sài Gòn, và hậu quả là sự nghiệp của ông bị chững lại từ hồi đó. Giờ đây, ông đã nhìn thấy một cơ hội để chuộc lỗi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Như chúng ta đã biết, điểm chính trong kế hoạch tổng thể của Bộ Tổng Tham mưu là yêu cầu toàn quân phải chuẩn bị để khai thác ngay lập tức bất kỳ thời cơ chiến lược nào nảy sinh. Khi Tướng Trà nhận lệnh từ Bộ Tổng Tham mưu yêu cầu Trung ương Cục Miền Nam phải dự kiến các tình huống cho một cuộc tấn công thần tốc vào Sài Gòn trong trường hợp xảy ra một “sự biến chính trị - quân sự” (đảo chính), ông biến cái “dự kiến” này thành nền tảng kế hoạch của toàn Trung ương Cục Miền Nam cho năm 1975. Tướng Trà đặt việc chiếm Sài Gòn trong năm 1975, không kéo dài sang năm 1976, là mục tiêu cao nhất trong kế hoạch của Trung ương Cục Miền Nam. Ông yêu cầu Hà Nội ngay lập tức gửi cho mình 3-4 sư đoàn để triển khai kế hoạch này, và ông thay đổi giai đoạn một – giai đoạn tấn công của Trung ương Cục Miền Nam theo lời kêu gọi của Bộ Tổng Tham mưu - thành một chiến dịch lớn nhằm vào việc tạo cơ sở cho cuộc tấn công vào Sài Gòn, bằng cách chiếm quyền kiểm soát toàn tỉnh Phước Long. Bộ Tổng Tham mưu không đáp lại yêu cầu này, Tướng Trà bèn quay về Hà Nội để thuyết phục từng cá nhân.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Trở về Hà Nội vào cuối tháng 11 năm 1974, Trần Văn Trà được biết rằng Bộ Tổng Tham mưu đã bác phần lớn kế hoạch tấn công Phước Long của ông và không tán thành việc Trung ương Cục Miền Nam sử dụng trước bất kỳ xe tăng và trọng pháo nào trong các cuộc tấn công có quy mô nhỏ. Trần Văn Trà bắt đầu vận động các đồng chí cũ trong ban lãnh đạo Đảng, đặc biệt là Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, ngõ hầu lật ngược quyết định của Bộ Tổng Tham mưu. Sau nhiều nỗ lực, may mắn cuối cùng đã mỉm cười với Tướng Trà. Suốt những cuộc tấn công đầu tiên, quân của Tướng Trà cả phá các đồn nhỏ của VNCH ở Bù Đăng và Bù Na trên Đường 14. Tổng Tư lệnh Quân đội Trung ương Cục Miền Nam báo cáo về Hà Nội vào ngày 20 tháng 12 rằng trong đợt phá hai đồn này, các lực lượng QĐNDVN đã thu được nguyên vẹn 4 khẩu lựu pháo 105 mm và 7.000 viên đạn pháo. Kho báu ngoài dự tính này làm các nhà lãnh đạo ở Hà Nội choáng váng. 7.000 viên đạn pháo là hơn nửa số đạn Bộ Tổng Tham mưu có kế hoạch sử dụng trên toàn quốc trong suốt chiến dịch 1975. Tướng Trà bây giờ đã có thể lập luận rằng ông có thể sử dụng kho báu này cho cuộc tấn công vào thủ phủ của tỉnh Phước Long theo kế hoạch ông đã lên mà thậm chí không cần động tới số dự trữ đạn dược hiện tại. Trên thực tế, QĐNDVN có thể kỳ vọng sẽ chiếm được thậm chí còn nhiều đạn được hơn ở các căn cứ lớn hơn. Đó là một lập luận mà các nhà lãnh đạo không thể bác được. Tướng Trà được phép triển khai kế hoạch ban đầu của ông. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Vào ngày 6 tháng 1, Sư đoàn số 3 và số 7 của QĐNDVN hoàn tất việc chiếm tỉnh Phước Long bằng cách chiếm thủ phủ của tỉnh và thu được thêm 10.000 viên đạn pháo. Miền Nam thậm chí không có nổi một nỗ lực động tác giả để lấy lại Phước Long, và tuy Mỹ đe dọa hành động bằng cách cho tàu sân bay Enterprise cất cánh về phía Miền Nam Việt Nam, nhưng Enterprise đã sớm quay lưng và mối đe dọa từ Mỹ tan thành mây khói.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Chiến thắng bất ngờ ở Phước Long cuối cùng đã thuyết phục các nhà lãnh đạo cộng sản rằng kế hoạch ban đầu của họ là quá thận trọng. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Đánh giá của Bộ Chính trị rằng Mỹ sẽ không tái can thiệp vào chiến cuộc đã tỏ ra là đúng đắn, những điểm yếu trong hàng phòng thủ của VNCH đã bị bộc lộ, và, cũng quan trọng chẳng kém, là cuối cùng đã có giải pháp cho vấn nạn thiếu đạn dược nghiêm trọng: đánh và chiếm các kho đạn dược của VNCH. Thêm vào đó, trận chiến ở Phước Long chứng tỏ cho Bộ Chính trị thấy rằng kế hoạch cho cuộc tấn công chính của QĐNDVN vào năm 1975, cuộc tấn công tháng ba vào Đức Lập bởi ba sư đoàn QĐNDVN, bây giờ đã lỗi thời và cần phải thay đổi. Kế hoạch được phê duyệt vào tháng 10 đặt ra hai mục tiêu chính cho trận Đức Lập: thứ nhất, đánh thông Đường 14 để sử dụng làm đường vận tải chiến lược cho cuộc tấn công cuối cùng vào Sài Gòn; thứ hai, kéo quân vào tiêu diệt một phần đáng kể binh lính VNCH khi họ cố gắng lấy lại các vùng lãnh thổ đã mất. Căn cứ vào các kinh nghiệm thu được từ Phước Long, bây giờ đã rõ ràng rằng nếu Đức Lập bị tấn công thì mục tiêu thứ hai sẽ không đạt được. Chiến thắng Phước Long chứng tỏ rằng VHCN vốn đã có ý định bỏ các khu vực ở xa và không quan trọng về mặt chiến lược như Đức Lập. Nếu VNCH không cố gắng chiếm lại Đức Lập, thì toàn bộ ba sư đoàn của QĐNDVN sẽ bị bỏ lại ở nơi không có ai để đánh, và như thế, yếu tố bất ngờ đã bị mất. Trần Văn Trà cho rằng chính ông là người đầu tiên đề nghị thay đổi mục tiêu tấn công sang Buôn Mê Thuột. Dù Tướng Trà có phải là người đầu tiên đưa ra ý tưởng đó hay không, thì các nhà lãnh đạo cộng sản cũng đã giang rộng vòng tay ôm lấy cơ hội chiếm Buôn Mê Thuột.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Buôn Mê Thuột là một thành phố có hơn 100.000 dân, “thủ phủ” của người dân tộc ở Tây Nguyên. Nơi đây có cơ quan đầu não và hậu cứ của Sư đoàn 23 VNCH, trong đó có khu căn cứ hậu cần Mai Hắc Đế đầy cám dỗ với những kho đạn pháo lớn. Thành phố nằm trên một giao điểm quan trọng sống còn, là nơi Đường 14 - chạy từ Kontum xuống phía nam tới cửa ngõ phía bắc của Sài Gòn - gặp Đường 21 - chạy theo hướng đông tới thành phố duyên hải Nha Trang. Nếu chiếm được Buôn Mê Thuột, các lực lượng QĐNDVN có thể di chuyển nhanh chóng bằng đường bộ lên phía bắc để chiếm Pleiku ở hậu phương, sang phía đông để cắt Việt Nam làm đôi, hoặc xuống phía nam để tấn công Sài Gòn. VNCH không thể để mất một vị trí chiến lược như vậy và sẽ bị buộc phải tổ chức phản công. Điều này càng đúng hơn bởi vì các gia đình của những quân nhân trong Sư đoàn 23 lại đều sinh sống ở Buôn Mê Thuột – quân đội VNCH chỉ đơn giản là không thể bỏ mặc vợ con mà tháo chạy, không chiến đấu. Trước đó 10 năm, thôn Bình Giã nhỏ xíu ở phía đông Sài Gòn đã được chọn làm mục tiêu của chiến dịch hợp đồng tác chiến liên trung đoàn đầu tiên của quân đội miền Bắc trong chiến tranh (tháng 12 năm 1964) chủ yếu vì lẽ, gia đình của nhiều lính thủy đánh bộ VNCH sinh sống ở Bình Giã. Các chỉ huy của QĐNDVN đã biết từ trước rằng VNCH sẽ buộc phải tấn công để chiếm lại thôn này, cứu người thân, nên họ đã giăng bẫy và tiêu diệt lực lượng viện binh của VNCH. Giờ đây, QĐNDVN lặp lại mẹo đó trên một quy mô rộng lớn hơn. Bởi vì Buôn Mê Thuột được bảo vệ rất mỏng (chỉ bởi Trung đoàn Bộ binh số 53 thiếu quân số, một tiểu đoàn xe tăng và pháo, và vài tiểu đoàn lính địa phương), một cuộc tấn công mạnh và bất ngờ vào thành phố sẽ nhanh chóng chế ngự những người bảo vệ nó. Một khi thành phố đã mất, các lực lượng QĐNDVN có thể triển khai phong tỏa và bẻ gãy các cuộc phản công của VNCH, trong khi đó viện binh của VNCH bị kẹt ở nơi đồng không mông quạnh, không kịp đào công sự bảo vệ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Vào ngày 7-1-1975, theo nghị quyết của phiên họp Bộ Chính trị phê duyệt kế hoạch mới, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đặt ra các mục tiêu của cuộc tấn công: Ở Quân khu 5 và Tây Nguyên, sử dụng ba sư đoàn chủ lực tấn công Tây Nguyên, mở ra một hành lang nối kết phần phía nam của Tây Nguyên với phía đông của Nam Bộ, và tạo điều kiện cho quân chủ lực di chuyển nhanh vào đông Nam Bộ, hợp tác với quân chủ lực của Trung ương Cục Miền Nam tấn công Sài Gòn. Các trận giao tranh mở màn sẽ nhằm chiếm Buôn Mê Thuột, đánh thông sang Tuy Hòa và Phú Yên, cắt đôi vùng hạ du ở Quân khu 5 (và miền Nam Việt Nam), và tạo ra một hướng khác để từ đó mau chóng tiến về phía nam, uy hiếp Sài Gòn.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Các triển vọng đầy hứa hẹn đến mức Bộ Chính trị, theo một đề xuất của Tướng Giáp, đã ra lệnh cho Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị kế hoạch mới để chiếm toàn bộ Miền Nam Việt Nam trong năm 1975.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Hai ngày sau, Quân ủy Trung ương họp và đặt ra các mục tiêu cụ thể cho chiến dịch Tây Nguyên 1975:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;- Tiêu diệt từ 4 đến 5 sư đoàn bộ binh địch, 1 đến 2 chiến đoàn thiết giáp, gây tổn thất nặng nề cho các đơn vị thuộc Quân đoàn 2 VNCH. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;- Giải phóng các tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức, đặt thành phố Buôn Mê Thuột làm mục tiêu chính.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;- Nếu thời cơ phát sinh, mở rộng cuộc tấn công lên phía bắc để giải phóng Pleiku và Kontum, hoặc sang phía đông để chiếm Phú Yên, Khánh Hòa.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Để thể hiện tầm quan trọng mà các nhà lãnh đạo đánh giá đối với chiến dịch, Tổng Tham mưu trưởng, Thượng tướng Văn Tiến Dũng nhận lệnh vào Buôn Mê Thuột ngay lập tức với tư cách phái viên của Bộ Chính trị và Bộ Tổng Tham mưu trong Chiến dịch Tây Nguyên. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Kế hoạch mới này của QĐNDVN đầy táo bạo và sáng tạo. Sau này, khi Sài Gòn đã sụp đổ, một vị tướng cao cấp của Miền Nam Việt Nam phát biểu rằng ông đã nhìn thấy ở chiến lược của QĐNDVN sự phản ánh thuật “tiếp cận gián tiếp” của B.H. Liddell Hart. Đòn đánh quyết định của QĐNDVN sẽ không nhằm vào quân đội chính của kẻ thù, mà vào những điểm chiến lược được phòng thủ yếu nhất mà đối phương lại không thể để mất được. Kế hoạch nhấn mạnh vào các nguyên tắc: tập trung binh lực, tốc độ, bất ngờ, nghi binh. Cuối cùng, việc chiếm Buôn Mê Thuột sẽ cho phép QĐNDVN lựa chọn bất kỳ nơi nào trong nhiều phương án để làm mục tiêu tấn công tiếp theo, do đó buộc VNCH vốn đã bị dàn mỏng phải vắt óc cố đoán xem QĐNDVN sẽ tấn công ở đâu tiếp theo. Việc triển khai kế hoạch này sẽ đặt Miền Nam Việt Nam vào một tình thế mà Liddell Hart rất thích bẫy kẻ thù của mình vào: “Lưỡng nan giữa muôn trùng gai”. Nó buộc các chỉ huy của VNCH phải phạm sai lầm và đảm bảo cho QĐNDVN chuẩn bị khai thác mọi thời cơ có thể.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Từ đây, mọi sự bắt đầu diễn tiến nhanh. Các đơn vị tham gia cuộc tấn công (gồm Sư đoàn số 10 và 320 của Mặt trận Tây Nguyên; Sư đoàn 968 từ Lào; Sư đoàn 316 tiến từ miền Bắc xuống phía nam; bốn trung đoàn bộ binh độc lập; các đơn vị tăng, pháo, và kỹ thuật; và 8.000 quân nhân tuyển mộ từ miền Bắc Việt Nam) bắt đầu tiến về điểm hẹn của họ. Mạng lưới tình báo tuyệt vời cho những người cộng sản biết rằng Miền Nam Việt Nam không hề hay biết gì về dự định thật của họ, cũng như họ đã giữ bí mật tuyệt đối lượng cung cấp hậu cần khổng lồ. Được đảm bảo như vậy, quân đội miền Bắc đã thực hiện một chiến dịch nghi binh vô cùng tinh xảo nhằm trực tiếp vào điểm mạnh nhất trong hệ thống tình báo của đối phương: hệ thống thiết bị điện tử và thám không của miền Nam Việt Nam và đồng minh Hoa Kỳ. Tại tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch Tổng Tiến công, sóng vô tuyến đều im lặng tuyệt đối. Nhân viên tình báo của QĐNDVN gửi đi hàng trăm tín hiệu vô tuyến giả, tổ chức những đoàn xe tải di chuyển lộ liễu, và tiến hành các hoạt động làm đường – những con đường ma – tất cả đều nhằm làm Miền Nam Việt Nam tin rằng Sư đoàn số 10 và 320 của QĐNDVN đang tập trung về Pleiku và Kontum và hai thành phố ở phía bắc Tây Nguyên này là mục tiêu thật sự của Việt Cộng. Chiến dịch nghi binh hiệu quả đến nỗi các chỉ huy quân đội Miền Nam Việt Nam đã bỏ qua một số báo cáo từ các điệp viên và bản khai của tù binh cho thấy QĐNDVN thật ra đang sắp tấn công Buôn Mê Thuột.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Đến cuối tháng 2, tất cả các đơn vị QĐNDVN đều đã sẵn sàng. Ngày 1 tháng 3, Sư đoàn 968 tấn công vài đồn nhỏ ở phía tây Pleiku, thu hút sự chú ý của VNCH vào mối đe dọa đối với thành phố Pleiku. Ngày 4/3, chiến dịch của QĐNDVN bắt đầu với một cuộc tấn công của Sư đoàn 95A, phá tan vài đồn nhỏ của VNCH canh Đường 19 trên Đèo Mang Yang, do đó cắt đứt đường tiếp tế chính cho các lực lượng VNCH ở Tây Nguyên. Xa hơn ở phía đông, trên Đường 19, Sư đoàn số 3 QĐNDVN tổ chức tấn công cắt đứt tuyến đường huyết mạch này và uy hiếp Sư đoàn số 22 VNCH. Ngày tiếp theo, Trung đoàn số 25 của QĐNDVN cắt Đường 21 - con đường duy nhất còn lại nối từ bờ biển vào Tây Nguyên, nối Buôn Mê Thuột và Nha Trang. Các lực lượng VNCH ở Tây Nguyên giờ đây bị cô lập và hoàn toàn phụ thuộc vào tiếp tế từ trên không. Tuy nhiên, phương tiện vận tải hàng không nghèo nàn của không quân VNCH hoàn toàn không thích ứng với việc tiếp tế khẩn cấp ở quy mô này. Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Chỉ huy của ông nhận ra rằng nếu Đường 19 và 21 không được mở lại sớm, các lực lượng VNCH ở Tây Nguyên sẽ nhanh chóng cạn kiệt lương thực, hết nhiên liệu và đạn dược. Ngày 8 tháng 3, Sư đoàn 320 của QĐNDVN tràn ngập một huyện lỵ trên Đường 14 ở phía bắc Buôn Mê Thuột, cắt đường đi Pleiku và hoàn tất việc cô lập Buôn Mê Thuột. Sân khấu đã sẵn sàng cho cuộc tấn công cuối cùng của QĐNDVN, mà VNCH thì vẫn không đoán được Buôn Mê Thuột là mục tiêu.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Theo dõi các diễn biến từ Sài Gòn, Tổng thống Thiệu và Bộ Chỉ huy của ông không thể nào biết được đòn tiếp theo của cộng sản sẽ đánh vào đâu. Tiếp tục chiến dịch nghi binh của QĐNDVN và nhằm ngăn chặn lực lượng dự trữ của VNCH được chuyển lên để củng cố Tây Nguyên, trong những ngày trước khi đánh Buôn Mê Thuột, QĐNDVN tổ chức một đợt sóng các cuộc tấn công trên toàn Miền Nam Việt Nam. Ở phía bắc, vào ngày 5 tháng 3, công binh và du kích tấn công vùng hạ du Quảng Trị và Thừa Thiên, và ngày 8 tháng 3, Sư đoàn 324 của QĐNDVN đánh mạnh vào tuyến phòng thủ chính của VNCH ở tây nam Huế. Về phía nam, ngày 7 tháng 3, quân đội cộng sản tiến hành một loạt vụ tấn công vào khu vực Sài Gòn và Đồng bằng Sông Cửu Long, mà đỉnh cao là chiếm một huyện lỵ chính ở phía tây bắc Sài Gòn. Tổng thống Thiệu và các tướng nghĩ nát óc. Rõ ràng là một cuộc tổng tiến công tổng lực của phe cộng sản diễn ra đến nơi rồi, nhưng đâu là mục tiêu chính? Đâu là nơi nguy hiểm nhất? Với Thiệu và các tướng, câu trả lời đã hiển nhiên: thủ đô Sài Gòn. Kế hoạch nghi binh của QĐNDVN đã diễn ra một cách hoàn hảo. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Ngày 9 tháng 3, Sư đoàn 10 của QĐNDVN, với hai trung đoàn bộ binh (số 26 và 66) và được yểm trợ chỉ với hai khẩu lựu pháo 105mm, 50 viên đạn, tấn công và đánh chiếm Đức Lập cùng toàn bộ các vị trí phòng thủ ở đó trong vòng 24 tiếng. VNCH mất ở đây tổng cộng ba tiểu đoàn, 14 khẩu pháo và 20 xe tăng. Sau khi củng cố chiến thắng, Sư đoàn 10 tiến theo hướng bắc, lên Buôn Mê Thuột.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Rạng sáng 10 tháng 3, 12 trung đoàn QĐNDVN tổ chức tiến công bất ngờ mãnh liệt vào Buôn Mê Thuột. Sư đoàn công binh 198 và hai tiểu đoàn bộ binh đã bí mật lọt vào thành phố từ trước, sau đó tấn công hai sân bay của Buôn Mê Thuột, kho chứa hàng tiếp tế Mai Hắc Đế, và đầu não của Sư đoàn số 23 VNCH. 5 trung đoàn bộ binh (ba từ Sư đoàn 316, Trung đoàn số 24 thuộc Sư đoàn 10, và các chiến binh lão luyện của Trung đoàn 95B thuộc Sư đoàn 325) tiến vào thành phố từ ba hướng, dẫn đường là xe tăng và xe chở thiết giáp của Trung đoàn Thiết giáp số 273, và dưới một lưới lửa tạo bởi 78 súng hạng nặng của Trung đoàn pháo số 40 và 675. Trung đoàn chống máy bay 232 và 234 đi kèm các mũi tấn công, tạo ra một chiếc ô hỏa lực chắn máy bay rát đến mức các đợt tấn công bằng bom của không quân VNCH hầu như đều vô hiệu và gây hại cho chính quân đội họ ngang với cho đối phương. Sau 32 giờ giao tranh, các lực lượng QĐNDVN phá tan đầu não của Sư đoàn 23, bắt sống Phó tư lệnh Sư đoàn. Tướng Dũng báo về Hà Nội rằng quân của ông đã thu được 12 khẩu pháo và 100 tấn đạn pháo ở Buôn Mê Thuột. Điều này đảm bảo với Bộ Tổng Tham mưu rằng chiến dịch sẽ tiến triển mà không bị cản trở bởi nỗi lo thiếu đạn. Các nhà lãnh đạo Bắc Việt ngay lập tức nhận ra tầm quan trọng của chiến thắng này. Trong suốt cuộc họp Bộ Chính trị vào 11/3, Lê Duẩn thảo luận về khả năng thời cơ chiến lược - thời điểm để tiến hành cuộc tổng tiến công cuối cùng - sắp đến. Chiến thắng trong chiến tranh sẽ đến với bên nào sẵn sàng đón lấy nó. Miền Bắc Việt Nam đã sẵn sàng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Hồi trống trận tiến công lúc đầu dường như nhằm vào Pleiku, sau là vào Sài Gòn và Huế, và bây giờ, thật bất ngờ, lại là cuộc tấn công Buôn Mê Thuột. Đó là những đòn tâm lý làm choáng váng các nhà lãnh đạo phía VNCH. Bối rối, tuyệt vọng, và hẳn là trong trạng thái sốc thực sự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra hai quyết định trọng yếu vào ngày 10 và 11 tháng 3, đánh dấu chấm hết cho số phận của Miền Nam Việt Nam. Việc đầu tiên là Thiệu ra lệnh rút lập tức Sư đoàn Kỵ binh bay VNCH, vốn là nền tảng phòng thủ của Quân đoàn 1, để về chống đỡ cho Sài Gòn. Khi các chỉ huy của VNCH cố gắng rút những đơn vị này về và tái triển khai để lấp đầy lỗ hổng để lại sau khi Sư đoàn Kỵ binh bay đã rút đi, hệ thống phòng thủ của Quân đoàn 2 bắt đầu nghiêng ngả như một căn nhà xây bằng các lá bài. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Tiếp theo, đúng như Miền Bắc Việt Nam đã đoán trước, Thiệu ra lệnh phản công lập tức để chiếm lại Buôn Mê Thuột “bằng mọi giá”. Do đường lên Buôn Mê Thuột đã bị cắt, viên chỉ huy Quân đoàn II của VNCH, Tướng Phạm Văn Phú, buộc phải dùng trực thăng đưa hai trung đoàn còn lại trong Sư đoàn 23 của ông lên trận địa, thả 5 tiểu đoàn vào một khu đất ở phía đông Buôn Mê Thuột trong thời gian từ ngày 12 tới 14 tháng 3 mà không có xe tăng và chỉ có sự trợ lực giới hạn của pháo binh. Trung đoàn đã hạ cánh vào chính giữa “vùng chết” (quyết chiến điểm) mà QĐNDVN giăng ra. Sư đoàn 10 của QĐNDVN, vừa trở về từ Đức Lập, có xe tăng và pháo binh hùng mạnh yểm trợ, đã chờ sẵn. Trong một cuộc tấn công chớp choáng bốn ngày, Sư đoàn 10 tràn lên và đánh tan hoang phần còn lại của Sư đoàn 23 và Chiến đoàn Biệt động quân số 21. Trong lúc đó thì với những kẻ hấp hối trong đội quân một thời hùng mạnh của VNCH ở Tây Nguyên, khi đường tiếp viện đã bị cắt và không còn hy vọng được cung ứng thêm hay cứu trợ, số phận của họ đã được định đoạt. Mệnh lệnh ngày 14 tháng 3 của Thiệu rút các lực lượng khỏi Pleiku xuống theo Đường 7B ra biển là một hành động tuyệt vọng nhằm cứu vãn những gì còn lại của lực lượng VNCH ở Tây Nguyên. Mệnh lệnh ngu xuẩn, thực hiện thì dốt nát, nhưng trong tình hình ấy thì đó là điều có thể hiểu được.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Khi các đoàn quân của Tướng Dũng hoàn tất việc tiêu diệt mũi rút lui của VNCH khỏi Pleiku, Tướng Giáp ra lệnh cho các lực lượng của ông xung quanh Huế đi vòng qua tuyến phòng thủ của VNCH – những dãy núi đã cản trở các cuộc tấn công trước kia của QĐNDVN. Ông Giáp ra lệnh cho Quân đoàn 2 QĐNDVN phái Sư đoàn 324 và 325 đánh trực tiếp vào vùng hạ du ở duyên hải, cắt đứt Đường 1 - đường rút lui chính của VNCH - và phá tan các đoàn quân tháo chạy trước khi họ có thể tập hợp và củng cố lại. Bị kẹt giữa đồng không mông quạnh, bị cô lập và cắt mọi đường tiếp tế, các đơn vị VNCH trên đường rút lui trong hoảng loạn đã bị quét sạch. Tới ngày 29 tháng 4, Huế, Đà Nẵng, và toàn bộ Quân đoàn 1 của VNCH đã nằm trong tay những người cộng sản. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Hồi kết&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Trong khi đó, trong một phiên họp lịch sử của Bộ Chính trị vào ngày 18 tháng 3, Tướng Giáp đã đóng nhát búa cuối cùng vào cỗ quan tài của chế độ Miền Nam Việt Nam với một quyết định chiến lược lớn cuối cùng trong sự nghiệp quân sự chói sáng của ông. Tướng Giáp tuyên bố rằng cơ hội chiến lược chờ đợi từ bao lâu nay đã đến. Ông lệnh cho QĐNDVN ngay lập tức tổ chức một cuộc tổng tiến công trên toàn chiến trường để kiểm soát hoàn toàn Miền Nam Việt Nam ngay trong năm 1975. Lực lượng dự bị chiến lược cuối cùng của Miền Bắc Việt Nam - Quân đoàn số 1 tinh hoa - bây giờ đã đến lúc xung trận. Bộ Chính trị tức tốc phê chuẩn đề nghị của Tướng Giáp và ra lệnh tổng tiến công Sài Gòn từ mọi hướng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Với quyết định này, kết cục của cuộc chiến không còn gì phải nghi ngờ nữa. Giấy báo tử coi 30 tháng 4 năm 1975 là ngày giỗ, nhưng phát súng hạ gục VNCH đã được bắn từ ngày 18 tháng 3 bởi Tướng Võ Nguyên Giáp. Chiến thắng cuối cùng này của Tướng Giáp đồng thời cũng là chiến thắng ít đổ máu nhất. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;--------------------------------------------------------------------------------&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Merle L. Pribbenow tốt nghiệp Đại học Washington năm 1968, chuyên ngành khoa học chính trị. Ông là nhân viên Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) ở Đông Dương, có 27 năm kinh nghiệm nghiên cứu về Việt Nam, trong đó có năm năm làm việc tại Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn tính đến ngày 29-4-1975. Kể từ khi về hưu (năm 1995), ông đã viết ba bài nghiên cứu lịch sử chiến tranh ở Việt Nam và dịch một cuốn sách của Bộ Quốc phòng Việt Nam sang tiếng Anh, xuất bản tháng 5-2002 tại Mỹ. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;(*) Liddell Hart (1895-1970), nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng người Anh, đưa ra khái niệm chiến lược “tiếp cận gián tiếp”, nghĩa là thay vì tấn công trực tiếp thì đánh vào chỗ đối phương không ngờ tới (ví dụ tập hậu, tạt sườn…). &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;Nguồn: Đoan Trang lược dịch và chú thích&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Nhan-Thuc/Nghe_thuat_chien_tranh_VN_tien_cong_mua_xuan_1975"&gt;&lt;span style="font-family: Arial, Helvetica, sans-serif;"&gt;http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Nhan-Thuc/Nghe_thuat_chien_tranh_VN_tien_cong_mua_xuan_1975&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6386160990305421427-2439723090797888319?l=danhnhanviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/feeds/2439723090797888319/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6386160990305421427&amp;postID=2439723090797888319' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/2439723090797888319'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/2439723090797888319'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/2010/05/oc-lai-va-suy-ngam.html' title='Đọc lại và suy ngẫm'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6386160990305421427.post-1670680829638037076</id><published>2010-03-01T22:58:00.001+07:00</published><updated>2010-03-02T20:44:45.574+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Võ Nguyên Giáp: Thiên tài quân sự'/><title type='text'>Võ Nguyên Giáp: Thiên tài quân sự</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Năm 1992, Hội đồng Khoa học Hoàng gia Anh vinh danh 10 nhân vật quân sự  lỗi lạc nhất mọi thời đại, trong đó có&amp;nbsp;hai vị tướng kiệt xuất của Việt&amp;nbsp;Nam: Hưng  Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Điều đặc biệt, trong số  những người được vinh danh,&amp;nbsp;duy nhất Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn sống. Nhân dịp  Đại tướng bước sang tuổi 100, Báo &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Quân đội nhân dân&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;xin giới thiệu cùng  bạn đọc bài viết của tác giả Hồ Ngọc Sơn về thiên tài quân sự Võ Nguyên  Giáp.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Để được tôn vinh thiên tài quân sự qua mọi thời đại của nhân loại thật không  dễ. Thế nhưng, với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không chỉ nhận được sự đồng thuận  rất cao của giới quân sự, kể cả với những người bình chọn “khó tính” nhất, ông  còn nhận được sự ngưỡng mộ, kính trọng của nhiều nguyên thủ quốc gia, chính  khách, học giả, nhà sử học, nhà báo, nhà văn và đông đảo nhân dân thế giới.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Dưới ánh sáng đường lối kháng chiến của Đảng Cộng sản Việt Nam và Tư tưởng  quân sự Hồ Chí Minh, đằng sau những thắng lợi mang tính thời đại của nhân dân và  Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, Võ Nguyên Giáp là một động lực. Những chiến  tích vĩ đại mà ông đã góp phần cống hiến xuất sắc, ít người sánh kịp, đã nâng  ông lên tầm một vị tướng huyền thoại, để lại một dấu son rực rỡ trong lịch sử  quân sự thế giới. Nghiên cứu về con người và sự nghiệp của ông, thế giới không  chỉ ca ngợi tài thao lược kiệt xuất, mà thường phân tích sâu 5 yếu tố cơ bản  nhất và đó cũng là 5 bài học có giá trị lớn nhất làm nên một thiên tài quân  sự.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="wp-caption alignright" id="attachment_1294" style="width: 310px;"&gt;&lt;b&gt;&lt;b&gt;&lt;a class="lightbox" href="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2010/02/image0015.jpg" jquery1267456904671="2" title="Cựu chiến binh huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đọc thơ viết tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Hồng Hải."&gt;&lt;/a&gt;&lt;/b&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;1. Trước hết, ông được đánh giá là một chuyên gia lỗi lạc hàng đầu về  đường lối chiến tranh nhân dân của phong trào giải phóng dân tộc trong nước và  trên thế giới&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Cecil B. Curry, một chuyên gia nghiên cứu lịch sử quân sự hiện đại có tên  tuổi của Mỹ, đã viết cuốn sách “Võ Nguyên Giáp, một thiên tài quân sự”, xuất bản  ở Mỹ năm 1997. Cuốn&amp;nbsp;sách&amp;nbsp;được&amp;nbsp;dịch ra tiếng Pháp năm 2003 ấn hành ở Pa-ri&amp;nbsp;và  cũng được dịch ra tiếng Trung Quốc xuất bản ở Bắc Kinh, trích lời Đại tướng Võ  Nguyên Giáp viết: “Chiến lược chiến tranh của chúng tôi không phải chỉ liên quan  đến những công việc thuần túy quân sự. Chiến tranh phải là một chiến lược tổng  thể kết hợp nhiều yếu tố khác nhau. Mục đích chính trị là căn bản. Quân đội  không phải chỉ có nhiệm vụ chiến đấu, mà phải tuyên truyền, giáo dục dân chúng.  Như vậy, mọi người đều là lính. Tất cả, mỗi làng, mỗi quận (huyện) là một pháo  đài và cả nước chúng tôi là một chiến trường rộng lớn. Chúng tôi tập trung lực  lượng ở vùng này hay vùng khác tùy thuộc vào điều kiện chính trị chiếm ưu thế  từng thời kỳ trong từng giai đoạn. Điều này là một nguyên tắc chiến lược rất  quan trọng để tiến hành chiến tranh toàn dân…” (Nguyên văn của dịch giả Nguyễn  Văn Sự).&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Đường lối chiến tranh của Đảng Cộng sản Việt Nam và Tư tưởng quân sự Hồ Chí  Minh đã nêu rõ phải tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn diện, trường kỳ kháng  chiến; xây dựng&amp;nbsp;LLVT với 3 thứ quân gồm: Dân quân du kích, bộ đội địa phương và  bộ đội chủ lực, trong đó bộ đội chủ lực làm nòng cốt, yếu tố vũ khí rất quan  trọng nhưng yếu tố con người và chính trị tinh thần đóng vai trò quyết định;  tiến hành chiến tranh du kích kết hợp với chiến tranh chính quy, lấy yếu địch  mạnh, lấy nhỏ đánh lớn, lấy chất lượng tinh thắng số lượng đông; tập trung kết  hợp phân tán linh hoạt v.v.. Không chỉ quán triệt sâu sắc, Đại tướng Võ Nguyên  Giáp đã tiến hành đường lối chiến tranh nhân dân Việt&amp;nbsp;Nam&amp;nbsp;một cách hết sức sáng  tạo. Ông coi trọng trước hết việc rèn luyện vững chắc bản lĩnh chính trị cho  quân đội. Tình yêu nước nồng nàn, lòng trung thành vô hạn với lý tưởng cách  mạng, tinh thần vì nhân dân quên mình, đoàn kết quân dân cá nước luôn được  truyền lại và thấm sâu đến từng chiến sĩ. Các&amp;nbsp;LLVT luôn ra sức luyện tập tinh  thông kỹ thuật, chiến thuật, làm tốt công tác dân vận.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Ông kết hợp rất khéo léo, chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị,  kinh tế, ngoại giao, văn hóa… đạt kết quả toàn diện trên cả hai mặt trận: Kháng  chiến và kiến quốc. Ở tuyến trước, quân dân Việt&amp;nbsp;Nam&amp;nbsp;thực hiện linh hoạt phương  châm quân sự “2 chân, 3 mũi” (2 chân quân sự, chính trị song song, 3 mũi tấn  công vũ trang, đấu tranh chính trị của quần chúng và binh địch vận), đánh địch  khắp ba vùng chiến lược: Rừng núi, đồng bằng, đô thị. Còn ở tuyến sau, luôn xây  dựng, củng cố vững chắc căn cứ địa cách mạng và hậu phương, chi viện đắc lực cho  tiền tuyến. Chiến tranh nhân dân Việt&amp;nbsp;Nam&amp;nbsp;đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật  quân sự. Đường lối ưu việt của cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, kháng chiến  trường kỳ đã đánh bại và làm phá sản đường lối tốc chiến, tốc thắng và các chiến  lược của những đế quốc hùng mạnh nhất thế kỷ 20.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;2. Tư duy khoa học của Võ Nguyên Giáp về xây dựng lực lượng quân sự  rất độc đáo, sáng tạo và toàn diện.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Bắt đầu từ con số 0, ông đã có và có tất cả những đơn vị chiến đấu, phục vụ  chiến đấu đáp ứng được nhu cầu chiến tranh trong hoàn cảnh đất nước nghèo nàn,  lạc hậu, thiếu thốn trăm bề. Ông hội tụ được một đội ngũ cán bộ ưu tú các cấp,  có khả năng độc lập, tự chủ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở những địa bàn tinh  nhuệ được xây dựng thành một binh chủng chính quy. Ngành quân y và cái bếp mang  tên người Anh hùng Hoàng Cầm, được triển khai đến tận đại đội trong chiến đấu.  Ông là người đề xuất mở đường Trường Sơn, về sau mang tên huyền thoại đường Hồ  Chí Minh và còn phát triển thêm “Con đường mòn” trên biển. Bộ đội hành quân bộ  hàng trăm, hàng nghìn cây số ra mặt trận. Mạng lưới thông tin liên lạc, giao  thông vận tải quá thô sơ. Bảo đảm hậu cần bằng gồng gánh, thồ xe đạp, mang vác  trên vai hơn 50kg vượt qua biết bao sông suối, núi đèo, đói rét, bệnh tật, thú  dữ, đạn bom. Một nền hậu cần thời trung cổ đã thắng một nền hậu cần hiện đại,  khổng lồ nhất thế giới của quân đội Pháp, Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;3. Võ Nguyên Giáp là một vị tướng sắc sảo nhất về nghệ thuật khoét  sâu chỗ yếu của địch.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Ông rất cẩn trọng trong so sánh tương quan lực lượng đôi bên, không bao giờ  đánh giá thấp đối phương. Cách đánh tập trung quy mô nhỏ. Chỗ yếu lớn nhất của  địch là chiến tranh phi nghĩa, không có được các yếu tố thiên thời, địa lợi,  nhân hòa. Việt&amp;nbsp;Nam&amp;nbsp;thì ngược lại, với cuộc chiến tranh toàn dân, đàn ông, đàn  bà, người già, con trẻ đều là chiến sĩ, làm cho quân địch luôn lo sợ cái chết  rập rình. Chúng lo sợ cả gỗ, đá, thân tre, lá lúa đều biến thành chông, bẫy,  gươm, dao. Địch tập trung lớn, ta biết tránh đối đầu trực diện, làm cho chúng  không tìm thấy đối phương, hiệu suất chiến đấu rất thấp. Chúng ta biết linh hoạt  phân tán và tập trung ưu thế binh hỏa lực&amp;nbsp;đánh vào chỗ sơ hở, điểm yếu và hiểm  yếu của địch, gây cho chúng thiệt hại nặng nề. Võ Nguyên Giáp là vị tướng luôn  chủ động bắt buộc đối phương bị động thay đổi thế cờ, đánh theo cách đánh của  ông, vì thế mà phá sớm về chiến thuật,&amp;nbsp;chiến dịch,&amp;nbsp;chiến lược, dẫn đến thất bại  hoàn toàn.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;4. Về tài thao lược, thế giới xem ông là bậc thầy về chiến lược,  chiến thuật quân sự.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Hơn 30 năm chỉ huy quân sự, Võ Nguyên Giáp chưa bao giờ phạm sai lầm về chiến  lược. Ngược lại, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của&amp;nbsp;Chủ tịch&amp;nbsp;Hồ Chí Minh và  tập thể Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Võ Nguyên Giáp đã buộc 10 danh  tướng Pháp, Mỹ mắc sai lầm về chiến lược và thua trận, trong đó có 7 đại tướng  Pháp: Philippe Leclerc, Etienne Valluy, C.Blaizot, M.Carpentier, Delattre de  Tassigny, Raoul Salan, Henri Navarre và 3 đại tướng Mỹ: Westmoreland, C.Abrams  và F.C.Weyand.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Các thiên tài quân sự thường truyền lại binh thư, binh pháp. Võ Nguyên Giáp  đã dốc tâm trí nghiên cứu học thuyết quân sự của giai cấp vô sản và tư bản,  chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Liên Xô, chiến tranh chống Nhật của Trung Quốc,  lý luận quân sự của Clausewitz, những trận đánh của Napoléon, truyền thống đánh  giặc của tổ tiên, những trận đánh thắng và không thắng của ta trong kháng chiến  chống thực dân&amp;nbsp;Pháp và đế quốc Mỹ, đúc kết thành những nguyên tắc quân sự độc  đáo của Việt Nam. Các sách quân sự và các tác phẩm văn học của ông đã giúp nhiều  nhà nghiên cứu lịch sử quân sự trên thế giới hiểu biết về cuộc chiến tranh toàn  dân và tự giải đáp được nguyên nhân vì sao thực dân&amp;nbsp;Pháp và&amp;nbsp;đế quốc&amp;nbsp;Mỹ thất bại  trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Võ Nguyên Giáp không qua một trường quân sự nào, ông học trong thực tế là  chính. Chiến tranh luôn ẩn chứa nhiều yếu tố ngẫu nhiên không thể biết và lường  trước được hết. Ông không xử trí chiến thuật quân sự bằng những “giải pháp quân  sự cố định học đường”, mà luôn xuất phát từ thực tế chiến trường để giải quyết  mọi tình huống ngoài dự kiến và lật ngược thế cờ. Lý luận về “trận đánh quyết  định” trong học thuyết quân sự của ông được giới quân sự chú ý và nghiên cứu.  Ông cho rằng, ta có thể đánh thắng địch trong khi chúng đông quân nhất, nhiều vũ  khí nhất và ngay cả khi chúng cho là ta không thể thắng chúng, miễn là ta có  cách đánh đúng và thích ứng với thực tế… Ông đã hoàn toàn đúng với học thuyết về  “trận đánh quyết định” ở Điện Biên Phủ, “Điện Biên Phủ trên không” và chiến dịch  Hồ Chí Minh.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Với bài báo “Tướng Giáp suýt thua trong trận đánh Điện Biên Phủ như thế nào?”  đăng trên tờ “Người quan sát mới”, nhà sử học Pháp Boudarel đã phản biện đại ý:  Tướng Giáp đã hai lần tấn công thất bại “Con nhím Nà Sản”. Lần thứ nhất, dùng  chiến thuật “Đầu nhọn đuôi dài”… bị tổn thất mà không thắng. Lần thứ hai, sớm  nhận ra Tướng Giáp sẽ chỉ đạo thay đổi chiến thuật, dùng cách đánh “Khoanh chặt  để bắt sống con nhím”, Navarre đã rút bỏ Nà Sản; ta đã giải phóng được địa bàn  nhưng thất bại ý đồ chính là tiêu diệt sinh lực địch; Tướng Giáp dám “Khoanh  chặt để bắt sống con nhím khổng lồ Điện Biên Phủ” là ông ta dám thế chấp sinh  mạng chính trị của mình cho trận đánh, vì nếu thua thì ông sẽ mất hết, dù ông  còn sống thì đó cũng chỉ là sự tồn tại. Phải có một bản lĩnh lớn, ông mới thuyết  phục được các cố vấn Trung Quốc từ bỏ ý định “Đánh nhanh, thắng nhanh, với chiến  thuật đầu nhọn, đuôi dài nở hoa trong lòng địch”. Và mọi người đã đồng thuận  chấp nhận cách đánh của ông-cách đánh của Việt Nam-cách đánh Bác Hồ luôn căn  dặn, đó là “Đánh chắc, tiến chắc; dùng chiến thuật bao vây đánh lấn theo kiểu  bóc vỏ, xẻ múi, nghiền hạt”. Tướng Giáp đã bắt sống con nhím khổng lồ Điện Biên  Phủ, không cho nó xổng chuồng.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;5. Võ Nguyên Giáp là vị tướng có một nhân cách phi  thường.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Nét đẹp cao quí tập trung nhất về nhân cách của ông là tinh thần “Dĩ công vi  thượng”. Ông tâm niệm, làm theo lời răn dạy đó của Bác Hồ suốt cả đời mình. Với  ông, Tổ quốc, dân tộc và Đảng là trên hết, không gì thiêng liêng, cao cả hơn.  Trước sóng gió trên mặt trận quân sự và cả trong cuộc sống, ông tỉnh táo lạ  thường, tỉnh táo đến sáng suốt tuyệt vời. Ông luôn gạt cá nhân mình sang một  bên, đặt sinh mạng chính trị của đất nước, nhân dân lên trên hết, tìm cách thu  hẹp mọi bất đồng, mâu thuẫn; nhằm khắc phục những khuyết điểm, sai lầm gây nguy  hại cho quốc gia, dân tộc. Ông luôn tỏ rõ là một vị tướng tài đức song toàn, có  uy tín cao và tròn vẹn, là chỗ dựa tinh thần và nơi gửi gắm niềm tin của nhân  dân, cán bộ, đảng viên.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Ông rất mực khiêm tốn: Công trạng của ông vô cùng to lớn nhưng ông không nói  về mình, luôn đề cao công lao thành tích của nhân dân, quân đội, Đảng và Bác  Hồ.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Tháng 2-1989, ông thay mặt Chính phủ tiếp kiến Thống chế Méhra-người thống  lĩnh chỉ huy lực lượng không quân và các lực lượng phòng không toàn Ấn Độ dẫn  đầu đoàn đại biểu quân sự cấp cao Ấn Độ sang thăm nước ta. Thống chế Méhra không  ngớt lời ca ngợi ông là một vị tướng huyền thoại. Ông cảm ơn và từ tốn đáp lời:  “Nếu không có một tập thể lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, nhân dân và quân đội anh  hùng, tướng lĩnh chúng ta dù tài giỏi đến đâu, cũng không thể làm nên công  trạng, thành tích”. Thống chế Méhra rất tâm đắc lời ông.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Tháng 11-1998, John Kennedy (con trai Tổng thống Mỹ Kennedy) cho đăng trên  tạp chí&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;George &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;cuộc phỏng vấn ông. John Kennedy hỏi: “Ai là vị tướng  người Việt giỏi nhất?”. Không một phút suy nghĩ, ông trả lời ngay: “Nhân dân  Việt&amp;nbsp;Nam”, John Kennedy rất bất ngờ và thú vị.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Học và làm theo Bác, ông rất chuộng lối sống giản gị, thanh cao. Căn phòng  tiếp khách của ông đã đón tiếp không biết bao nhiêu người có địa vị xã hội cao ở  nhiều nước, nhưng không có đồ vật gì sang trọng cả. Ông đi tàu hỏa về thăm quê  hương. Ông đi máy bay dân dụng lên thăm Điện Biên Phủ. Ông chan hòa tình cảm với  nhân dân, cán bộ, chiến sĩ rất hồn nhiên, vui vẻ.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Trên lĩnh vực quân sự, nhân cách của ông tỏa sáng rực rỡ tinh thần quyết  đoán, dân chủ, nhân hậu.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Trước những quyết định khó khăn, đòi hỏi người chỉ huy phải dũng cảm, trí  tuệ. Về điều này, trong lịch sử quân sự thế giới, ít người sánh kịp. Ông cho  rằng, những thắng lợi trên chiến trường, xét cho cùng là do những người trực  tiếp chiến đấu quyết định. Vì vậy, ông rất coi trọng phát huy dân chủ. Ông luôn  chịu khó lắng nghe, chọn lọc và trân trọng những sáng kiến, cách đánh hay của  cán bộ, chiến sĩ và trong nhân dân, tạo nên một khối đoàn kết vững chắc, một sức  mạnh vô địch của cuộc chiến tranh toàn dân.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Ông rất nghiêm minh về kỷ luật nhưng cũng rất bao dung, nhân hậu. Ông xem cán  bộ, chiến sĩ như anh em trong một đại gia đình cách mạng. Ông hết lòng yêu  thương chiến sĩ và không ít lần đã khóc trước thương vong của bộ đội, nhân dân  trong chiến tranh. Đặc biệt, ông quí từng giọt máu của người lính. Ông tâm sự  với đội ngũ cán bộ thuộc quyền rằng: Chiến tranh không phải là vấn đề thể diện,  không được phiêu lưu, mạo hiểm, không cho phép đánh đổi bằng bất cứ giá nào. Một  người chỉ huy giỏi là một người đánh thắng kẻ thù nhưng ta thương vong thấp  nhất, đổ xương máu ít nhất. Sinh mạng của con người là vô giá và không gì có thể  bù đắp được nỗi đau mất mát trong chiến tranh.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Dĩ công vi thượng, khiêm tốn, sống giản dị, thanh cao, quyết đoán, dân chủ và  bao dung, nhân hậu -Đó là nhân cách Võ Nguyên Giáp -&amp;nbsp;một thiên tài quân sự.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của vị chỉ huy tối cao Hồ Chí Minh và tập  thể Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với nhân dân và Quân đội nhân dân  Việt Nam anh hùng, những chiến thắng vĩ đại mà Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên  Giáp góp phần làm nên, đã tác động mạnh mẽ vào dòng chảy lịch sử, làm thay đổi  bộ mặt thế giới thứ&amp;nbsp;ba và số phận một số nước trên thế giới, thúc đẩy sự sụp đổ  của chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Nhân dân Ấn Độ gọi ông là “Một con người  Việt&amp;nbsp;Nam&amp;nbsp;đã thuộc về toàn thế giới”. Còn khắp năm châu, ông không chỉ được tôn  vinh là một vị tướng huyền thoại, mà còn là một thiên tài quân sự của mọi thời  đại. Điều này, không có gì khó hiểu. Vì ông là một trong những người học trò  xuất sắc nhất và là bạn chiến đấu gần gũi, thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh,  một vị Đại tướng của nhân dân, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt&amp;nbsp;Nam. Và  có lẽ, chính những tên gọi giản dị này lại ghi đậm trong ta những ấn tượng đẹp  đẽ, sâu sắc nhất, những bài học quí giá cần được chiêm nghiệm mỗi khi ta nghĩ  đến con người và sự nghiệp của ông đã hiến dâng cho nhân dân, đất nước ta.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Hồ Ngọc Sơn&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;Nguồn:&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;a href="http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/56/58/58/103341/Default.aspx"&gt;&lt;span style="font-family: Verdana, sans-serif;"&gt;http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/56/58/58/103341/Default.aspx&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6386160990305421427-1670680829638037076?l=danhnhanviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/feeds/1670680829638037076/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6386160990305421427&amp;postID=1670680829638037076' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/1670680829638037076'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6386160990305421427/posts/default/1670680829638037076'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://danhnhanviet.blogspot.com/2010/03/vo-nguyen-giap-thien-tai-quan-su.html' title='Võ Nguyên Giáp: Thiên tài quân sự'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6386160990305421427.post-153160516199556328</id><published>2009-12-16T17:51:00.005+07:00</published><updated>2011-09-25T09:23:36.120+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Suy ngẫm minh triết Hồ Chí Minh'/><title type='text'>Suy ngẫm minh triết Hồ Chí Minh</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBl
